Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm Chu kỳ là khoảng thời gian giữa hai lần lặp lại liên tiếp của một sự việc, hay thời gian để kết thúc một vòng quay, một chu trình. Như vậy đơn vị đo chu kỳ là đơn vị đo thời gian. Chu kỳ kinh doanh rừng trồng sản xuất: là chu kỳ làm tối đa hóa giá trị hiện tại ròng (NPV) từ số các chu kỳ/ luân kỳ khai thác trong một thời hạn giao đất (Nguyễn Quang Hà và Dương Thị Thanh Tân (2016), Borges và cộng sự, 2014).
Hiệu quả kinh tế, dù được tính toán theo các phương pháp khác nhau, luôn là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Việc so sánh kết quả và chi phí có thể được thực hiện bằng các cách thức, phương pháp khác nhau, các phương pháp phổ biến là: - Hiệu số giữa kết quả đầu ra và chi phí đầu vào - Tỷ số giữa chi phí và kết quả - Tỷ số giữa phần gia tăng của kết quả và phần gia tăng của chi phí - Tỷ số giữa mức kết quả thực tế với kết quả tối đa - Tỷ số giữa chi phí tối thiểu và chi phí thực tế Các tiêu chí sử dụng cho xác định tuổi khai thác rừng trồng (Trần Thị Thu Hà và Cs, 2016): - Tối đa hóa sản lượng rừng trồng (MGY – Maximum Gross Yield): Tuổi khai thác rừng trồng: khi tăng trưởng của rừng bằng không, trữ lượng đạt giá trị cực đại: pQT = 0 = QT; Tiêu chí này hiện không còn giá trị thực tiễn bởi nó bỏ qua các yếu tố quan trọng như chi phí trồng rừng, suất chiết khấu và giá trị của đất trồng rừng. 5 - Tối đa hóa tăng trưởng rừng bình quân năm (CMAI – Culmination of Mean Annual Increment)- hay tối đa hóa sản lượng rừng bền vững về mặt sinh học (MSY – Maximum Sustained Yield): Tiêu chí này có ưu điểm là tương đối đơn giản, thuận lợi cho việc lập kế hoạch và quản lý, nhưng có nhược điểm là bỏ qua khía cạnh kinh tế trong xác định chu kỳ kinh doanh rừng trồng: chi phí trồng rừng, giá gỗ, lãi suất. - Tối đa hóa thu nhập thuần hàng năm (Maximization of Annual Net Revenue): Đây là mô hình xác định luân kỳ khai thác rừng tối ưu rất gần với tiêu chí tối đa hóa tăng trưởng bình quân (CMAI), điểm khác biệt là tính đến chi phí trồng rừng.
- Tối đa hóa tốc độ tăng của vốn đầu tư (Maximization of the Rate of Growth of Capital: Còn có tên gọi là tối đa hóa IRR hoặc tối đa hóa tỷ lệ sinh lợi (Rate of Return); Mô hình này được thiết lập trên giả định là yếu tố cố định trong trồng rừng không phải là đất đai, mà là vốn đầu tư và từ đó mục tiêu của kinh doanh rừng trồng là tối đa hóa tỷ lệ sinh lợi của vốn. - Tối đa hóa lợi nhuận từ gỗ và lâm sản ngoài gỗ: Ngoài gỗ thì các giá trị khác cũng được xem xét như giải trí, bảo vệ động vật hoang dã, cung cấp dịch vụ sinh thái…; Luân kỳ tối ưu sẽ ở vào thời điểm tại đó giá trị gia tăng cận biên của cây đứng sẽ cân bằng với chi phí cơ hội của việc hoãn khai thác. - Tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ một luân kỳ trồng rừng (Maximization of Present Net Worth- PNW from a single rotation): Còn gọi là mô hình thành thục tài chính; Mô hình này giả thiết chủ rừng trồng theo đuổi mục tiêu giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ đầu tư vào rừng trồng trong 1 luân kỳ, không quan tâm đến các luân kỳ tiếp theo, nghĩa là không tính đến chi phí cơ hội của sử dụng đất. - Tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ vô số các luân kỳ trồng rừng (Maximization of the Discounted Net revenue from an Infinite 6 rotations): Mô hình này được xây dựng đầu tiên bởi Faustmann năm 1894 và sau đó bởi Pressler và Ohlin, nên còn được gọi là mô hình FPO; Các tên gọi sử dụng nguyên lý tương tự với mô hình này là SL (soil rent), SEV (soil expectation value) hoặc LEV (land expectation value); Mô hình này giả định rừng sẽ được tiếp tục trồng ở các luân kỳ tiếp theo, nghĩa là quyết định về luân kỳ khai thác rừng hiện tại chịu ảnh hưởng của các khả năng sinh lợi trong tương lai.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu trên thế giới Các nghiên cứu về chu kỳ khai thác rừng hợp lý trong khoảng 30 năm gần đây chủ yếu hướng vào mở rộng công thức tính NPV, bổ sung các biến của mô hình để phản ảnh chính xác hơn thực tế và bao hàm đầy đủ hơn các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của chủ rừng về chu kỳ khai thác. Chang (1982) và Graham - Tomassi (1983) mở rộng mô hình bằng bổ sung biến thâm canh lâm sinh (silvicultural efforts) vào hàm sản lượng rừng, khi đó, kết quả xác định chu kỳ khai thác tối ưu lại phụ thuộc vào vấn đề hai biến của hàm sản lượng rừng (thời gian và thâm canh) là bổ sung hay thay thế cho nhau, cần các ước lượng thực nghiệm về hàm sản lượng để trả lời câu hỏi này. Cũng về hàm sản lượng gỗ, Johansson và Lofgren (1985) khảo sát ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ (qua đó ảnh hưởng đến hàm tăng trưởng sinh học của rừng) đến chu kỳ khai thác hợp lý, kết quả cho thấy, dưới ảnh hưởng của sự gia tăng sản lượng rừng, chu kỳ khai thác sẽ có xu thế giảm trong ngắn hạn và kéo dài trong dài hạn. McConnell và Cs (1983) khảo sát ảnh hưởng của thay đổi giá gỗ và chi phí trồng rừng đến chu kỳ khai thác tối ưu bằng phương pháp giải bài toán tối ưu động, trong đó đặt tình huống trong tương lai, đất trồng rừng có thể dịch chuyển khỏi khu vực lâm nghiệp và khi đó, chi phí trồng rừng có thể rất cao.
Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy, nếu giá gỗ tăng với tỷ lệ tăng không đổi, 7 và chi phí trồng rừng tăng nhanh, thì chu kỳ khai thác tối ưu sẽ tăng theo thời gian, còn ngược lại, nếu giá gỗ tăng với tốc độ tăng cao hơn tỷ lệ tăng của chi phí, thì chu kỳ khai thác tối ưu sẽ giảm theo thời gian. Ngoài ra, tỷ lệ tăng của giá thuần (net price) của gỗ phải nhỏ hơn tỷ lệ chiết khấu, bởi nếu ngược lại, thì việc khai thác rừng sẽ bị trì hoãn đến vô cùng do giá trị hiện tai của thu nhập từ trồng rừng sẽ liên tục tăng theo thời gian (nghĩa là sẽ không có điểm cực đại, mà ở đó, chu kỳ khai thác được coi là tối ưu). Các nghiên cứu về ảnh hưởng của rủi ro như cháy rừng và thiên tai đến chu kỳ khai thác tối ưu được đề cập đến trong các nghiên cứu của Martell (1980), Reed (1984), các tác giả này sử dụng các kỹ thuật khác nhau như mô hình Markov với xác suất cháy rừng cố định, hoặc đưa xác suất cháy rừng bình quân vào tỷ lệ chiết khấu, kết quả chung của các nghiên cứu này là mức độ rủi ro cao sẽ dẫn tới rút ngắn chu kỳ khai thác tối ưu. Một số lượng đáng kể các nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh rừng tối ưu cũng được tập trung vào việc tính đến các lợi ích ngoài gỗ, nhất là các ngoại ứng tích cực như cảnh quan, phòng hộ, cố định cacbon… của rừng trồng.
Hartman (1976) là người đầu tiên bổ sung vào công thức Faustmann lợi ích gỗ và giá trị khác ngoài gỗ của rừng trồng và giải bài toán tối ưu, kết quả cho thấy ảnh hưởng của lợi ích ngoài gỗ sẽ làm kéo dài hay rút ngắn chu kỳ khai thác tối ưu tùy thuộc vào các lợi ích ngoài gỗ đó đó tăng hay giảm theo tuổi rừng. Calish và các cộng sự (1978) đã kiểm định các công thức là kết quả của Hartman, sử dụng các phương trình sản lượng của 7 loại lợi ích ngoài gỗ của vùng trồng gỗ Linh sam, kết quả kiểm định khẳng định kết quả nghiên cứu của Hartman về ảnh hưởng của các lợi ích ngoài gỗ đến chu kỳ khai thác tối ưu. Tuy nhiên, ngoài tính phức tạp của lượng hóa lợi ích ngoài gỗ của rừng trồng thì tính chất công cộng của các lợi ích này dẫn tới việc xác định mức độ ảnh hưởng của lợi ích này đến quyết định chu kỳ kinh doanh của các cá nhân chủ rừng (Amacher, 2013). 8 Gần đây, khi nghiên cứu cho rừng trồng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy và giá trị các bon cho rừng trồng bạch đàn ở Tây Ban Nha và Braxin cho thấy chu kỳ kinh doanh không có sự thay đổi (Diaz-Balteiro, Rodriguez, 2006).
KuLa và Gunalay (2011), ứng dụng phương trình Faustmann để xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu cho rừng trồng Thông Sitka ở Anh, kết quả cho thấy rừng trồng thông đạt tuổi thành thục kinh tế ở tuổi 41 với lập địa 2 và tuổi 38 với lập địa 1 với lãi xuất chiết khấu 3,5%. Theo Hoganson (2008) chỉ ra rằng giá trị đã ước lượng hiệu quả kinh tế cho chu kỳ đầu tiên có thể được sử dụng để ước lượng cho giá trị kỳ vọng về đất. Theo Borges và Cs (2014) chỉ ra rằng các nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ có thể tính hiệu quả cho các sản phẩm lâm sản ngoài gỗ dựa trên việc sử dụng công thức Faustmann để tính giá trị NPV và LEV. Sự khác biệt giữa NPV và LEV là giá trị tổng của vô số chu kỳ kinh doanh rừng trồng được tạo ra từ chu kỳ kinh doanh đầu tiên.
Fridah và Cs (2018), ứng dụng phương trình Faustmann (1849) để xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu cho rừng trồng Thông, Bạch đàn và Hoàng đàn tại Kenya. Kết quả cho thấy rừng trồng Thông đạt tối ưu ở tuổi 13, rừng Bạch đàn ở tuổi 38 và Hoàng đàn ở tuổi 24 với lãi suất chiết khấu 10,5%. Tổng quan về tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Các nghiên cứu về chu kỳ khai thác rừng ở Việt Nam trong những năm gần đây tập chung chủ yếu vào các giá trị như NPV, IRR, BCR. Các tiêu chí xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu được trình bày trong các giáo trình kinh tế Lâm nghiệp, kinh tế tài nguyên, đề cập đến các tiêu chí chung, tham khảo các học giả nước ngoài.