Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước Không chỉ riêng tại Việt Nam mà chính sách an từ lâu đã trở thành đối tượng nghiên cứu tại nhiều quốc gia khác nhau. Các nhà xã hội học thuộc trường phái Chicago ở Mỹ và các nhà nhân học xã hội ở Anh, Pháp,. đã thực hiện rất nhiều các công trình nghiên cứu về đời sống và hệ thống phúc lợi xã hội của các thành phần dân cư khác nhau tại các trung tâm đô thị.
Kết quả của mối quan tâm này đã dẫn đến sự ra đời của nhiều hệ thống, mô hình về an sinh xã hội đã và đang được áp dụng không chỉ ở các nước Tây Phương mà còn tại nhiều nước tại khu vực Á Châu. Những mô hình về chính sách an sinh xã hội/phúc lợi xã hội trên thế giới: Hệ thống chính sách xã hội được hình thành từ một nhóm nhỏ các nước công nghiệp phát triển Tây Âu trong 30 năm trước khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất, sau đó nó được lan rộng sang các nước Nam và Bắc Mỹ trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất và gần đây nó được phát triển ở một số nước thuộc thế giới thứ ba. Tuy nhiên xét về mặt truyền thống, hệ thống chính xã hội của châu Âu được hình thành từ lâu hơn, trên cơ sở Luật cứu trợ người nghèo ra đời ở Anh từ thế kỷ XVI. Trên cơ sở của luật cứu trợ này, một số quốc gia đã thiết lập các chương trình trợ giúp xã hội điển hình như nước đức (1889), Đan Mạch (1891), Anh (1908), Ai Len (1908), Hà Lan và Thụy Điển (1913).
(Đinh Công Tuấn, 2008, tr. 22) Cho đến ngày hôm nay, hệ thống chính sách an sinh xã hội đã phát triển rộng khắp trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên về tổng thế có hai mô hình chính đó là: Mô hình Bismarck (Otto Von BisMarck 1815 – 1898): Theo trường phái này, chính sách an sinh xã hội được thực hiện dựa trên trụ cột là bảo hiểm xã hội (BHXH) gắn với yếu tố lao động. Chế độ BHXH được áp dụng bắt buộc với một mức lương cụ thể, mức đóng góp và mức trả BHXH được tính căn cứ vào tiền lương và được quản lý bởi các đối tác xã hội.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan niệm của trường phái Lord Beveridge: Theo trường phái này, hệ thống chính sách an sinh xã hội hoạt động dựa trên ba nguyên tắc: Bao phủ toàn diện (mọi người lần đầu được hưởng an sinh xã hội); mức chi trả tương đương và quản lý tập trung, thống nhất. Trong thời gian gần đây, hai tổ chức lớn trên thế giới là Ngân hàng thế giới (WB) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đưa ra quan điểm của mình về mô hình an sinh xã hội: Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB) : An sinh xã hội được xây dựng dựa trên mô hình quản lý rủi ro xã hội. Triết lý của mô hình này là mỗi cá nhân, mọi gia đình, mọi cộng đồng đều phải chịu những rủi ro nhất định do thiên tai hay những biến động trong đời sống kinh tế, xã hội gây ra. Chính những rủi ro này là nguyên nhân gây ra nghèo khổ.
Người nghèo là những người chịu nhiều rủi ro nhất so với các thành phần xã hội khác và ít có điều kiện tiếp cận các công cụ và phương tiện cho phép họ đối mặt với rủi ro. Vì vậy, cần xây dựng cơ chế an sinh xã hội dành cho người nghèo để hạn chế tình trạng bấp bênh của họ, tạo cho họ các phương tiện để thoát nghèo. Theo quan điểm mới dựa trên khái niệm quản lý rủi ro, hệ thống an sinh xã hội được hiểu là toàn bộ các chính sách Nhà nước nhằm giúp đỡ các cá nhân, các gia đình và các nhóm xã hội quản lý các rủi ro của mình và cung cấp hỗ trợ cho những người nghèo khổ nhất. Theo quan điểm của WB, có ba chiến lược quản lý rủi ro, đó là: (1) Phòng ngừa rủi ro; (2) giảm nhẹ rủi ro và (3) khắc phục rủi ro.
Từ quan điểm này, WB cho rằng an sinh xã hội gồm hai vấn đề chính đó là mạng lưới bảo hiểm xã hội và vấn đề tư nhân hóa. WB ủng hộ việc xây dựng mô hình bảo đảm xã hội được tư nhân hóa dựa trên vai trò của quỹ hưu trí. Ưu điểm của mô hình này là mang tính tổng thể và toàn diện, chính sách an sinh xã hội được xây dựng trong mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế, giáo dục, y tế mang tính vĩ mô. Tuy nhiên, do gắn với chức năng chính của WB là xoá đói giảm nghèo, cho nên mô hình này mới chỉ tập trung vào việc giải quyết nạn nghèo đói mà chưa chú trọng đến vai trò thúc đẩy sự thịnh vượng, sự liên hệ của an sinh xã hội với các yếu tố kinh tế – xã hội khác.
11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quan điểm truyền thống của ILO thì an sinh xã hội được xây dựng trên trụ cột là bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây mô hình này cũng đã được sửa đổi mang tính toàn diện hơn dựa trên nguyên tắc đảm bảo quyền công dân. Theo mô hình này, là một thành viên của xã hội, mọi cá nhân đều có quyền được hưởng an sinh xã hội (phù hợp với tuyên ngôn nhân quyền 1948; Công ước 1966 của Liên hiệp quốc). Quyền hưởng an sinh xã hội là một quyền cơ bản của công dân, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển của người lao động, gia đình họ và toàn thể cộng đồng.
An sinh xã hội là một quyền cơ bản của con người và là nền tảng cho sự phát triển xã hội. Theo ILO mô hình an sinh xã hội xây dựng trên nguyên tắc quyền công dân có ba bộ phận cấu thành: (1) Chăm sóc y tế, (2) trợ cấp gia đình, (3) bảo đảm an ninh thu nhập trong trường hợp bị ốm đau, thất nghiệp, tuổi già, tai nạn lao động, thai sản hoặc mất nguồn nuôi dưỡng. Các trường phái trên được triển khai áp dụng trên thực tiễn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của mọi quốc gia khác nhau. Thực tế cho ở châu Âu thấy có ba mô hình an sinh xã hội: Mô hình dân chủ – xã hội của các nước Bắc Âu: Theo mô hình này tất cả mọi người dân đều được hưởng an sinh xã hội nhằm mục tiêu công bằng xã hội, nâng cao mức sống, tránh phân hoá giàu nghèo rõ nét.
Mô hình dân chủ – xã hội chủ yếu dựa vào vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp an sinh xã hội với hai hình thức chính là bảo hiểm xã hội và trợ cấp gia đình. Mô hình này có ưu điểm là phạm vi rộng, thể hiện được tính chất công bằng của an sinh xã hội. Tuy nhiên, mô hình này không kích thích nhu cầu tham gia quan hệ lao động, mặt khác do quá đề cao vai trò của Nhà nước cho nên nguồn ngân sách của Nhà nước đảm bảo cho an sinh xã hội là rất lớn. Mô hình phường hội (Cộng hòa Liên Bang đức): Theo mô hình này, hệ thống an sinh xã hội được chia theo từng ngành, từng lĩnh vực.
Ưu điểm của mô hình này là rất nhạy cảm đối với mọi sự biến động về việc làm của toàn bộ nền kinh tế nói chung và từng ngành nói riêng. Nhưng mô hình này lại có điểm hạn chế là không tạo ra được sự công bằng giữa những người lao động khác nhau, trong ngành nghề khác nhau. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Các mô hình nhà nước phúc lợi và an sinh xã hội ở châu Âu Mô hình Mô hình an sinh xã hội Nước nhà nướ c phúc lợ i Mô hình Đặc trưng Mô hình Đặc trưng - Phân phối - Mọi người dân đều được phúc lợi xã hội hưởng hệ thống an sinh xã bình đẳng giữa hội các giai cấp, An sinh - An sinh xã hội chủ yếu - Đan Mạch các thành viên xã hội dựa vào thuế - Thụy Xã hội trong xã hội theo kiểu - Hệ thống công ty chịu Điển dân chủ - Nhà nước là Scandina trách nhiệm chủ yếu về -Phần Lan lực lượng chủ vi phân phối lợi ích an sinh yếu đảm bảo xã hội phân phối - Nhà nước chỉ đảm nhận phúc lợi thanh toàn bảo hiểm thất - Nhà Việc làmnướcđẩy Bảo hiểm xã hội là hạt - nghiệp đóng vai tiêu đủ là mục trò nhân của hệ thống an An sinh - Lợi ích an sinh xã hội Nhà chủ yếu hàng đầu trong người sinh xã hộiđược hưởng rất dân - Đức xã hội nước phân phối An sinh xã hội chủ yếu - cao - Áo kiểu phúc lợi phúc lợi dựa vào sự đóng góp - Pháp Châu Âu bảo thủ - Phúc lợi phân của các thành viên trong lục địa phối không xã hội đều giữa các - An sinh xã hội được thanh - giai Phân cấp, phối các toán không đồng đều cho thành lợi viên phúc xã - các Thựcgiaihiệncấp, hệ các thành thống an trong xã hội hội chủ yếu viên sinh trong xã hội xã hội toàn diện An sinh dành cho - An sinh xã hội được Thị xã hội - Anh người nghèo, thanh toán sau khi đã qua trường tự kiểu - Ai Len người yếu thế thẩm tra tài sản, ở mức do Anglo- trong xã hội thấp Saxon - Nhà nước - Dịch vụ sức khỏe được chỉ can thiệp chú trọng khi các thành viên trong xã hội Nguồn: John Dixon. Social security in Global Perspective gặp rủi ro Ở phần lớn các nước Âu châu, nhà nước là người đóng vai trò chính trong việc đảm đương trách nhiệm xây dựng và vận hành các hệ thống phúc lợi xã hội bắt buộc.
Một quan điểm khác cũng quan tâm đến việc phân loại các hệ thống phúc lợi trên thế giới, Bùi Thế Cường (2002) cho rằng đại thể có ba mô thức cơ bản của chính sách xã hội mà các nước đang đi theo: hệ thống "bảo đảm toàn dân", hệ thống "bảo hiểm xã hội", và hệ thống "bảo đảm chọn lọc" (Bùi Thế Cường, 2002, tr. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mô hình "bảo đảm toàn dân" là mô hình trong đó nhà nước chủ động tái phân phối các nguồn lợi quốc gia để chăm lo phúc lợi cho toàn dân, không phân biệt sự khác nhau về địa vị kinh tế, xã hội và nghề nghiệp (mô hình này cũng còn được gọi là mô hình tái phân phối).