Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Gia Thọ dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Công Sách và TS. Trần Mạnh Hùng, chuyên ngành Quản lý Kinh tế (mã số 9 31 01 10) tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư - Bộ Giáo dục và Đào tạo), bảo vệ năm 2019.
Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng tiêu dùng xanh đang là xu hướng tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu khi các vấn đề môi trường gia tăng. Dù nhiều chính sách đã hướng tới việc làm sạch quy trình sản xuất của doanh nghiệp, các giải pháp phía cung không thể xử lý triệt để những tác động môi trường phát sinh từ việc lựa chọn, sử dụng và thải bỏ sản phẩm của người tiêu dùng. Tại Việt Nam, quá trình tăng trưởng kinh tế đang đối mặt với thực trạng suy giảm tài nguyên thiên nhiên và gia tăng ô nhiễm môi trường. Việc thực thi các cam kết quốc tế và văn bản chính sách như Tuyên ngôn quốc tế và Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững (1999), Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (tháng 9/2012) đòi hỏi phải đẩy mạnh xanh hóa lối sống và tiêu dùng. Tuy nhiên, việc hoạch định và thực thi chính sách tiêu dùng xanh tại Việt Nam vẫn còn nhiều rào cản: nhận thức của các nhà làm chính sách còn mới mẻ, chi phí chuyển đổi hành vi của người tiêu dùng còn cao, mua sắm công chưa có cơ chế bắt buộc đối với sản phẩm thân thiện môi trường, và các doanh nghiệp vẫn còn xu hướng sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu tốn năng lượng.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là: phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận tiêu dùng xanh từ góc độ vi mô hoặc hành vi của người tiêu dùng, thiếu vắng các nghiên cứu chuyên sâu xem xét tiêu dùng xanh từ góc độ quản lý nhà nước và tiến trình chính sách công.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:
- Mục tiêu tổng quát: Hệ thống hóa, bổ sung và luận giải rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách tiêu dùng xanh để đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế xanh thời kỳ đến năm 2030.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa, bổ sung và luận giải rõ cơ sở lý luận về chính sách tiêu dùng xanh.
- Đánh giá khách quan thực trạng chính sách và thực thi chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam, xác định đúng những kết quả, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp xây dựng và hoàn thiện chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam thời kỳ đến năm 2030.
Câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm 4 câu hỏi:
- Tiêu dùng xanh là gì và Nhà nước cần phải làm gì để thúc đẩy tiêu dùng xanh trong phát triển nền kinh tế xanh, tăng trưởng xanh?
- Khung khổ và nội dung chính sách tiêu dùng xanh trong phát triển kinh tế xanh ở một quốc gia như thế nào?
- Những chính sách nào đang có hiệu lực điều chỉnh việc tiêu dùng xanh ở Việt Nam?
- Để thúc đẩy tiêu dùng xanh ở Việt Nam thời kỳ đến năm 2030 cần có những chính sách gì của Nhà nước?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế xanh.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào chính sách chi tiêu công xanh (tiêu dùng của chính phủ) và chính sách tiêu dùng xanh của dân cư (tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình/cá nhân), không nghiên cứu chính sách tiêu dùng xanh trong sản xuất (tiêu dùng trung gian).
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát, đánh giá thực trạng chính sách từ năm 2012 và đề xuất giải pháp chính sách đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm chủ đề chính:
Thứ nhất, các nghiên cứu quốc tế về tăng trưởng xanh, kinh tế xanh và chính sách tiêu dùng:
- Các nghiên cứu về kinh tế xanh và tăng trưởng xanh: Báo cáo "Inclusive Green Growth: The Pathway to Sustainable Development" của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2012) xây dựng khung phân tích các tác nhân tác động đến tăng trưởng xanh; công trình "Advanced Analytics for Green and Sustainable Economic Development: Supply Chain Models and Financial Technologies" của Zongwei Luo (2012) phân tích mô hình chuỗi cung ứng và kỹ thuật tài chính; công trình của Woodrow W. Clark II và Grant Cooke (2015) về cuộc cách mạng công nghiệp xanh; nghiên cứu của Alberto Ansuategi, Juan Delgado và Ibon Galarraga (2015) về năng lượng xanh và hiệu quả kinh tế; công trình của P. về cấu trúc chính sách kinh tế xanh.
- Các nghiên cứu về hành vi và chính sách tiêu dùng xanh: Mô hình hành vi của Rylander và Allen (2001) của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ; lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen; các nghiên cứu thực nghiệm của Hui-hui Zhao, Quian Gao, Yao-ping (2014) và Qinghua Zhu, Ying Li, Yong Geng, Yu Qi (2013) về các nhân tố ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa ý định và hành vi tiêu dùng xanh; nghiên cứu của Rex và Baumann (2007), Young và cộng sự về khoảng cách giữa nhận thức và hành động mua sắm xanh; nghiên cứu của Kim và Choi (2005), Kollmuss và Agyeman (2002), Bonini và Oppenheim (2008); công trình của Sigmund A. tiếp cận nhận thức định tính về hành vi người tiêu dùng; nghiên cứu của nhóm ASCEE (2008) về 8 nhóm công cụ chính sách thúc đẩy tiêu dùng bền vững phía cầu.
Thứ hai, các nghiên cứu trong nước về kinh tế xanh, tăng trưởng xanh và tiêu dùng bền vững:
- Về kinh tế xanh và tăng trưởng xanh: Kỷ yếu hội thảo của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh khối Các cơ quan Trung ương (2014); sách chuyên khảo của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2012) về tái cấu trúc kinh tế theo mô hình tăng trưởng xanh; nghiên cứu so sánh chính sách tăng trưởng xanh ở các nước ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan) của Nguyễn Huy Hoàng (2015); các bài viết của Trần Văn Nghĩa (2016), Hải Nam (2013), Phạm Thị Ngọc Trâm (2006), Lê Văn Chiến (2016), Đào Khánh Hùng (2016), Nguyễn Thị Tuệ Anh và Đặng Thị Thu Hoài (2015), Nguyễn Trọng Hoài (2012), Kim Ngọc và Nguyễn Thị Kim Thu (2015).
- Về tiêu dùng và tiêu dùng xanh: Luận án tiến sĩ của Hoàng Thị Bảo Thoa (2017) và bài viết năm 2015 nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định và hành vi tiêu dùng xanh; các nghiên cứu của Vũ Anh Dũng, Nguyễn Thị Ngọc Ánh và Nguyễn Thu Huyền (2012); nghiên cứu về mua sắm công xanh của Lương Thị Ngọc Hà (2017), Minh Nguyên (2016), Phạm Thị Phương Hoa (2016); nghiên cứu của Nguyễn Danh Sơn (2014) về tiêu dùng xanh tài nguyên thiên nhiên.
- Về chính sách tiêu dùng xanh: Công trình của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (2012); đề tài cấp bộ của Trần Ngọc Ngoạn (2015) về đánh giá tác động của tiêu dùng xanh trong phát triển bền vững và khái quát kinh nghiệm của Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc tiếp cận hành vi vi mô của người tiêu dùng hoặc nghiên cứu đơn lẻ từng chính sách, chưa phân tích một cách chỉnh thể hệ thống chính sách tiêu dùng xanh dưới giác độ chính sách công và quản lý kinh tế. Đồng thời, mối quan hệ tương tác ba bên giữa Nhà nước (chủ thể quản lý), Doanh nghiệp (nhà sản xuất/phân phối) và Người dân (người tiêu dùng) trong tiến trình hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách tiêu dùng xanh chưa được luận giải đầy đủ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án dựa trên các khung lý thuyết về kinh tế xanh, tăng trưởng xanh và chính sách công:
- Khái niệm kinh tế xanh được tổng hợp từ UNEP (2008, 2010), UNDP, OECD và UN-ESCAP, xác định nền kinh tế xanh là nền kinh tế phát thải thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên, tạo việc làm xanh và hướng tới công bằng xã hội.
- Luận án phân tích 5 nhân tố chính của nền kinh tế xanh (Năng lượng tái tạo, Hiệu quả năng lượng, Quản lý và tối thiểu hóa rác thải, Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái, Sáng tạo việc làm xanh) dựa trên các nguyên tắc phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (UNDESA, 2012) và khung phân tích hệ thống tiêu chí phát triển xanh của FAO (2010).
| STT |
Nhân tố chính |
Nội dung cốt lõi |
| 1 |
Năng lượng tái tạo |
Thay thế nhiên liệu hóa thạch, giảm phát thải khí nhà kính và ô nhiễm |
| 2 |
Hiệu quả năng lượng |
Sử dụng công nghệ để tiêu thụ ít năng lượng nhưng duy trì dịch vụ tương đương |
| 3 |
Quản lý và tối thiểu hóa rác thải |
Áp dụng quy trình phòng ngừa, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và xử lý rác thải |
| 4 |
Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên |
Duy trì giá trị kinh tế của nước ngọt, đất, rừng và các dịch vụ hệ sinh thái |
| 5 |
Sáng tạo việc làm xanh |
Tạo việc làm an toàn, bảo đảm an sinh và quyền lợi người lao động |
- Định nghĩa tiêu dùng xanh do tác giả xây dựng: "Tiêu dùng xanh là thực hiện một chuỗi các hành vi gồm mua sắm sản phẩm hoặc dịch vụ xanh và sử dụng xanh: tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế, sử dụng bao bì xanh, xử lý rác xanh nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường."
- Định nghĩa chính sách tiêu dùng xanh: "Chính sách tiêu dùng xanh là tên gọi chung của một nhóm các chính sách kinh tế cụ thể để tác động tới lợi ích và hành vi của người tiêu dùng nhằm khuyến khích, thúc đẩy tiêu dùng xanh, hạn chế và thu hẹp tiêu dùng 'nâu' góp phần phát triển kinh tế xanh và thúc đẩy tiêu dùng bền vững."
- Phân loại 4 nhóm chính sách tiêu dùng xanh:
- Nhóm chính sách nhằm hạn chế tiêu dùng sản phẩm "nâu", sản phẩm gây nguy hại đến môi trường, xóa bỏ trợ cấp nhiên liệu hóa thạch, bán điện nước lũy tiến để tiết kiệm.
- Nhóm chính sách nhằm ràng buộc người tiêu dùng thực hiện tiêu dùng xanh (mua sắm công xanh, quy hoạch mạng lưới phân phối xanh).
- Nhóm chính sách nhằm khuyến khích, kích thích và hỗ trợ tiêu dùng xanh (chính sách thuế xanh, giá xanh, tín dụng tiêu dùng xanh).
- Nhóm chính sách bảo vệ người tiêu dùng xanh (dán nhãn sinh thái, nhãn xanh).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp tiếp cận tổng thể, hệ thống, tiếp cận thực tiễn và liên ngành chính sách công với các kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu cụ thể:
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp văn bản quy phạm pháp luật, số liệu thống kê, báo cáo từ các bộ, ngành, các công trình khoa học, dữ liệu thư viện và cổng thông tin điện tử.
- Thu thập dữ liệu sơ cấp:
- Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân: Tiến hành phỏng vấn đại diện các doanh nghiệp sản xuất và phân phối sản phẩm xanh/thông thường, người dân (người tiêu dùng) và cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan quản lý nhà nước tham gia hoạch định, thực thi chính sách.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát với cấu trúc bảng hỏi riêng biệt cho 3 nhóm đối tượng, quy mô mẫu gồm 1.005 phiếu:
- Người dân (người tiêu dùng cá nhân): 480 phiếu.
- Cán bộ, đại diện các doanh nghiệp: 205 phiếu.
- Cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước: 320 phiếu.
- Phương pháp quan sát: Quan sát có sự tham gia và không có sự tham gia tại các điểm bán hàng (chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng chuyên dụng, quầy hàng sản phẩm xanh) để ghi nhận hành vi lựa chọn và tiêu dùng thực tế.
- Công cụ và kỹ thuật xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS và Microsoft Excel để xử lý, tổng hợp và phân tích dữ liệu điều tra.
- Phương pháp phân tích so sánh: So sánh kinh nghiệm hoạch định, thực thi chính sách tiêu dùng xanh của một số quốc gia (Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan) nhằm rút ra bài học cho Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách tiêu dùng xanh
Chương này tập trung tổng thuật các nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhánh: tăng trưởng xanh/kinh tế xanh, hành vi tiêu dùng xanh và chính sách tiêu dùng xanh. Tác giả chỉ ra các điểm đồng thuận trong y văn quốc tế về vai trò của công cụ chính sách kinh tế và các rào cản tâm lý - thị trường giữa ý định và hành vi xanh. Trên cơ sở đó, chương 1 xác định rõ khoảng trống nghiên cứu, xây dựng hệ thống mục tiêu, 4 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi không gian, thời gian và thiết lập khung lý thuyết nghiên cứu mô tả mối quan hệ giữa chủ trương của Đảng/Nhà nước, 4 nhóm chính sách tiêu dùng xanh, các công cụ thực hiện (thuế, hàng rào kỹ thuật, hành chính), các yếu tố ảnh hưởng khách quan/chủ quan và kết quả tác động đến kinh tế - xã hội.
Chương 2: Cơ sở lý luận về chính sách tiêu dùng xanh trong phát triển kinh tế xanh
Chương 2 trình bày bản chất lý luận của kinh tế xanh, quá trình chuyển dịch từ "tiêu dùng nâu" sang "tiêu dùng xanh" hướng tới tiêu dùng bền vững. Tác giả phân tích cấu trúc các bên liên quan trong phát triển kinh tế xanh: Nhà nước giữ vai trò "nhạc trưởng" kiến tạo và là chủ thể mua sắm công; Doanh nghiệp ở vị trí trung tâm sản xuất và tiêu dùng trung gian; Cộng đồng dân cư/tổ chức xã hội là chủ thể kiến tạo và tiêu dùng cuối cùng.
Chương này làm rõ khái niệm, đặc điểm, công cụ và tiêu chí đánh giá chính sách tiêu dùng xanh; phân tích các nhóm yếu tố ảnh hưởng gồm: nhóm khách quan (bối cảnh quốc tế, thể chế chính sách, trình độ phát triển kinh tế - xã hội) và nhóm chủ quan (nhận thức, nguồn lực tài chính, nhân lực, công nghệ). Đồng thời, tác giả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng công cụ thuế môi trường, trợ giá, dán nhãn sinh thái và mua sắm công xanh, từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm về hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi cho Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam
Chương 3 khái quát thực trạng tiêu dùng và mua sắm tại Việt Nam thông qua các số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp. Tác giả phân tích dữ liệu về tiêu dùng cuối cùng của nền kinh tế giai đoạn 2014-2017, hoạt động đấu thầu mua sắm công giai đoạn 2014-2017, biến động dân số, đặc điểm giới tính, độ tuổi và các nguồn thông tin tiếp cận chính sách tiêu dùng xanh của người dân.
Nội dung trọng tâm của chương là phân tích thực trạng 4 nhóm chính sách tại Việt Nam:
- Nhóm chính sách hạn chế tiêu dùng sản phẩm "nâu": Đánh giá việc áp dụng Luật Thuế bảo vệ môi trường, biểu khung thuế và mức thu thuế bảo vệ môi trường hiện hành đối với túi nilon, xăng dầu; Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt; biểu mức thuế suất tài nguyên đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than; chính sách giá năng lượng và nước sinh hoạt nhằm giảm hao phí tài nguyên.
- Nhóm chính sách ràng buộc người tiêu dùng: Đánh giá các quy định về mua sắm công trong Luật Đấu thầu, các mục tiêu giảm phát thải carbon thấp trong các văn bản chính sách, việc quy hoạch các cơ sở phân phối và hạ tầng sử dụng năng lượng sạch.
- Nhóm chính sách khuyến khích, kích thích và hỗ trợ tiêu dùng xanh: Đánh giá các chính sách tín dụng xanh của Ngân hàng Nhà nước, chính sách giá ưu đãi cho năng lượng tái tạo, hệ thống chính sách thúc đẩy tái chế chất thải và các cơ chế hỗ trợ tài chính cho sản phẩm xanh.
- Nhóm chính sách bảo vệ người tiêu dùng xanh: Đánh giá kế hoạch xây dựng, ban hành tiêu chí và quy trình cấp Nhãn xanh Việt Nam (Nhãn sinh thái) của Bộ Tài nguyên và Môi trường, biểu trưng nhãn sinh thái, danh mục các sản phẩm và đơn vị đã được cấp chứng nhận nhãn xanh.
Đánh giá chung của chương 3 chỉ ra:
- Thành quả bước đầu: Khung pháp lý về bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh từng bước được hình thành; nhận thức của xã hội về sản phẩm xanh có chuyển biến; biểu thuế bảo vệ môi trường bước đầu điều chỉnh hành vi tiêu dùng các sản phẩm gây hại.
- Hạn chế và yếu kém: Hệ thống chính sách còn thiếu tính đồng bộ; thiếu quy định bắt buộc về mua sắm công xanh trong cơ quan nhà nước; danh mục sản phẩm được cấp nhãn xanh còn hạn chế; cơ chế khuyến khích tài chính và tín dụng xanh chưa đủ mạnh; công tác thanh tra, giám sát thực thi còn lỏng lẻo; thói quen tiêu dùng sản phẩm nhựa dùng một lần và công nghệ cũ vẫn còn phổ biến.
Chương 4: Giải pháp hoàn thiện chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam đến năm 2030
Chương 4 phân tích bối cảnh trong nước, quốc tế và triển vọng phát triển kinh tế xanh của Việt Nam đến năm 2030. Tác giả đề xuất các quan điểm và định hướng hoàn thiện chính sách tiêu dùng xanh gắn với mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
Các nhóm giải pháp cụ thể được luận án đề xuất bao gồm:
- Rà soát, hệ thống hóa toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách kinh tế liên quan đến tiêu dùng xanh để loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn.
- Hoàn thiện khung thể chế, chính sách theo 4 nhóm:
- Điều chỉnh khung thuế bảo vệ môi trường và thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sản phẩm phát thải cao, gây ô nhiễm; từng bước xóa bỏ trợ giá nhiên liệu hóa thạch.
- Thể chế hóa quy định bắt buộc về tỷ lệ mua sắm công xanh trong hoạt động chi tiêu của các cơ quan hành chính sự nghiệp; hoàn thiện quy hoạch mạng lưới phân phối sản phẩm xanh.
- Ban hành các chính sách ưu đãi thuế, lãi suất tín dụng và trợ giá nhằm kích thích tiêu dùng cá nhân đối với sản phẩm tiết kiệm năng lượng, sản phẩm tái chế.
- Chuẩn hóa hệ thống tiêu chí cấp Nhãn xanh Việt Nam, mở rộng danh mục sản phẩm được chứng nhận nhãn sinh thái và tăng cường cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng xanh.
- Nâng cao hiệu quả quá trình thực thi: Hoàn thiện bộ máy tổ chức thực hiện, tăng cường nguồn lực tài chính và nhân lực cho công tác quản lý, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong việc thực thi chính sách tiêu dùng xanh.
- Đề xuất một số khuyến nghị đối với Chính phủ, các bộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương) và chính quyền địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về tiêu dùng xanh và chính sách tiêu dùng xanh dưới góc độ quản lý kinh tế và chính sách công trong bối cảnh chuyển dịch mô hình kinh tế xanh.
- Đưa ra định nghĩa về tiêu dùng xanh và chính sách tiêu dùng xanh; xác lập khung phân tích 4 nhóm chính sách tiêu dùng xanh (hạn chế sản phẩm nâu, ràng buộc tiêu dùng xanh, khuyến khích/hỗ trợ tiêu dùng xanh, bảo vệ người tiêu dùng xanh).
- Xác định rõ vai trò của các chủ thể (Nhà nước, Doanh nghiệp, Người dân) và các công cụ thực thi chính sách (thuế, hàng rào kỹ thuật, hành chính), cùng các nhóm yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến quá trình hoạch định và thực thi chính sách.
Đóng góp về thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng về việc thực thi chính sách tiêu dùng xanh tại Việt Nam từ năm 2012 thông qua dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực nghiệm trên mẫu 1.005 đối tượng (người dân, doanh nghiệp, cán bộ quản lý nhà nước).
- Phân tích những điểm bất cập, thiếu đồng bộ trong hệ thống chính sách hiện hành, đặc biệt là sự thiếu vắng cơ chế ràng buộc mua sắm công xanh và những rào cản trong việc cấp nhãn sinh thái.
- Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện và lộ trình hoàn thiện thể chế chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam đến năm 2030, cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình sửa đổi, bổ sung các chính sách thúc đẩy kinh tế xanh và phát triển bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở chính sách chi tiêu công xanh của Chính phủ và tiêu dùng cuối cùng của dân cư (hộ gia đình, cá nhân), chưa bao quát toàn diện các chính sách tiêu dùng trung gian trong quy trình sản xuất của doanh nghiệp. Nguồn dữ liệu khảo sát thực nghiệm tập trung vào giai đoạn từ năm 2012 đến thời điểm bảo vệ.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát sang chính sách tiêu dùng trung gian và chuỗi cung ứng xanh của khối doanh nghiệp sản xuất, cũng như đánh giá tác động định lượng dài hạn của các công cụ thuế môi trường đối với hành vi tiêu dùng xanh ở các giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
- Đối với các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương): Khung chính sách 4 nhóm và các giải pháp về thể chế hóa mua sắm công xanh, hoàn thiện biểu thuế bảo vệ môi trường và tiêu chí nhãn xanh là tài liệu tham khảo trực tiếp cho việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Chính sách công, Kinh tế tài nguyên và môi trường: Luận án cung cấp khung phân tích lý luận, phương pháp khảo sát ba nhóm chủ thể và hệ thống dữ liệu thực nghiệm về tiêu dùng xanh tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án định nghĩa "Tiêu dùng xanh" như thế nào?
Trả lời: Theo luận án, tiêu dùng xanh là thực hiện một chuỗi các hành vi gồm mua sắm sản phẩm hoặc dịch vụ xanh và sử dụng xanh (tiết kiệm, tái sử dụng, tái chế, sử dụng bao bì xanh, xử lý rác xanh) nhằm giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường.
-
Khung chính sách tiêu dùng xanh trong luận án được phân chia thành những nhóm nào?
Trả lời: Khung chính sách gồm 4 nhóm lớn:
- Nhóm chính sách nhằm hạn chế tiêu dùng sản phẩm "nâu".
- Nhóm chính sách nhằm ràng buộc người tiêu dùng thực hiện tiêu dùng xanh.
- Nhóm chính sách nhằm khuyến khích, kích thích và hỗ trợ tiêu dùng xanh.
- Nhóm chính sách bảo vệ người tiêu dùng xanh.
-
Dữ liệu sơ cấp của luận án được thu thập từ những đối tượng nào và quy mô mẫu là bao nhiêu?
Trả lời: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra bảng hỏi với tổng số 1.005 phiếu, bao gồm 3 nhóm đối tượng: người dân (480 phiếu), cán bộ trong các doanh nghiệp (205 phiếu), và cán bộ, công chức nhà nước (320 phiếu), kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân và quan sát thực tế tại các điểm bán hàng.
-
Luận án xác định phạm vi nghiên cứu loại trừ nội dung nào của tiêu dùng?
Trả lời: Luận án tập trung vào chính sách chi tiêu công xanh (tiêu dùng của chính phủ) và chính sách tiêu dùng xanh của dân cư (tiêu dùng cuối cùng), loại trừ phạm vi nghiên cứu đối với chính sách tiêu dùng xanh trong sản xuất (tiêu dùng trung gian).
-
Những công cụ chính sách tiêu dùng xanh chủ yếu nào được phân tích trong luận án?
Trả lời: Các công cụ chính sách được phân tích bao gồm: công cụ tài chính/kinh tế (thuế bảo vệ môi trường, thuế tiêu thụ đặc biệt, chính sách giá, tín dụng xanh), công cụ kỹ thuật (hàng rào kỹ thuật, dán nhãn sinh thái/nhãn xanh, định mức tiết kiệm năng lượng), và công cụ hành chính/pháp lý (quy chuẩn mua sắm công, quy hoạch mạng lưới phân phối).
Kết luận
Luận án "Chính sách tiêu dùng xanh ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Gia Thọ là công trình nghiên cứu hệ thống về chính sách tiêu dùng xanh dưới góc độ quản lý kinh tế và chính sách công. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và điều tra khảo sát định lượng trên quy mô 1.005 mẫu, luận án đã làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng 4 nhóm chính sách tiêu dùng xanh tại Việt Nam giai đoạn từ 2012, và chỉ ra những điểm nghẽn về thể chế cũng như năng lực thực thi. Hệ thống giải pháp và khuyến nghị được đề xuất đến năm 2030 cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn có giá trị cho việc hoàn thiện khung khổ chính sách thúc đẩy kinh tế xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam.