CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VỚI LẠM PHÁT MỤC TIÊU 1.CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CSTT là một trong những chính sách kinh tế của quốc gia, nó được xây dựng và khởi động từ NHTW. NHTW thực hiện CSTT thông qua các công cụ của mình nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia. Khái niệm và phân loại chính sách tiền tệ 1. Khái niệm chính sách tiền tệ CSTT là tổng thể các biện pháp của nhà nước pháp quyền, là một bộ phận của chính sách kinh tế tài chính của một quốc gia.
Thông qua việc cung ứng những phương tiện thanh toán cần thiết cho nền kinh tế và tạo ra những khuôn khổ mang tính pháp lý cho các hoạt động tiền tệ trong nền kinh tế, chính sách tiền tệ hướng đến mục đích ổn định giá trị đồng tiền kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống của người lao động.[11] CSTT bao gồm toàn bộ các công cụ của nhà nước để điều tiết việc cung ứng tiền và việc sử dụng đồng tiền của các chủ thể kinh tế căn cứ vào lợi ích tổng thể, được cụ thể hóa bằng các mục tiêu của chính sách kinh tế chung.[17] Tại khoản 1 điều 3 của luật NHNN Việt Nam năm 2010 quy định: “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra”.[49] Đối với NHTW thì chức năng chủ yếu là quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nên mọi hoạt động của NHTW đều ảnh hưởng mật thiết đến mức cung ứng tiền trong nền kinh tế. Vì vậy, việc xây dựng và thực thi CSTT được giao cho NHTW thực hiện thông qua các công cụ của mình để thực hiện các mục tiêu kinh tế của nhà nước. Như vậy, CSTT là một trong những chính sách kinh tế của quốc gia mà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 NHTW thực hiện thông qua các công cụ của mình để điều tiết việc cung ứng tiền nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Như vậy, CSTT có một vai trò quan trọng trong bộ phận hệ thống các chính sách kinh tế quốc gia thể hiện ở các mặt: Thứ nhất, CSTT là một trong những chính sách quan trọng nhất vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông tiền tệ từ đó tác động vào nền kinh tế.
Song nó cũng có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác như: chính sách tài khóa, chính sách thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại. Thứ hai, đối với NHTW việc hoạch định và thực thi CSTT là hoạt động cơ bản nhất, chủ yếu nhất của NHTW, có thể coi CSTT là linh hồn, xuyên suốt trong mọi hoạt động của NHTW. Các hoạt động của NHTW đều thực thi CSTT đạt được các mục tiêu của nó. Phân loại chính sách tiền tệ CSTT thắt chặt và CSTT mở rộng Căn cứ vào khối lượng tiền cung ứng có thể chia CSTT thành CSTT thắt chặt và CSTT mở rộng.
- CSTT thắt chặt: nhằm kiểm soát chặt chẽ mức phát hành tiền vào lưu thông, nó nhằm mục tiêu hạn chế đầu tư, kiềm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế và chống lạm phát. - CSTT mở rộng: nhằm khuyến khích phát hành tiền vào lưu thông, nó nhằm kích thích đầu tư, mở rộng sản xuất, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động và nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế và chống suy thoái. CSTT cơ cấu và CSTT chức năng Căn cứ vào chức năng và đối tượng tác động có thể chia CSTT thành CSTT cơ cấu và CSTT chức năng - CSTT cơ cấu bao gồm việc tạo dựng và thay đổi hình thể của hệ thống tiền tệ với những yếu tố có tính hiệu lực lâu dài như: lựa chọn hệ thống tiền tệ, quy định đơn vị tiền tệ, luật phát hành tiền. Thông thường cơ quan lập pháp là cơ quan thực hiện CSTT cơ cấu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 - CSTT chức năng: tổng thể các biện pháp nhằm để điều tiết, chỉ đạo các hoạt động tiền tệ. NHTW phát hành tiền nên nó là cơ quan thực hiện CSTT thuộc về chức năng. CSTT cơ cấu tạo ra điều kiện khung cho CSTT chức năng. Trong khuôn khổ ấy, CSTT chức năng vận dụng những công cụ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, thị trường mở,… để đạt mục tiêu của mình.
Với ý nghĩa như vậy, trong phạm vi nội dung nghiên cứu của luận văn này chỉ nói đến CSTT với vai trò là CSTT chức năng. CSTT đơn mục tiêu và CSTT đa mục tiêu Căn cứ vào mục tiêu cuối cùng trong điều hành CSTT của NHTW có thể chia CSTT thành CSTT đơn mục tiêu và CSTT đa mục tiêu. - CSTT đơn mục tiêu: là CSTT của NHTW thực hiện đeo đuổi một mục tiêu cuối cùng do các mục tiêu của CSTT là mâu thuẩn.Do đó, khi NHTW thực hiện CSTT đơn mục tiêu sẽ tránh được sự xung đột giữa các mục tiêu trong điều hành CSTT. - CSTT đa mục tiêu: là CSTT của NHTW thực hiện đeo đuổi nhiều mục tiêu cuối cùng như: mục tiêu tỷ lệ lạm phát thấp đồng thời tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao hoặc tỷ lệ thất nghiệp thấp,… 1.
Hệ thống mục tiêu của chính sách tiền tệ 1. Mục tiêu cuối cùng CSTT có vị trí và vai trò quan trọng và nó là hoạt động có ý thức của NHTW nên những tác động của nó đến nền kinh tế là nằm trong hệ thống mục tiêu của NHTW. Tuy nhiên, tùy vào tình hình kinh tế xã hội của mỗi quốc gia khác nhau mà mỗi nước sẽ đeo đuổi những mục tiêu khác nhau.Nhưng nhìn chung thì mục tiêu cuối cùng của CSTT có thể quy về các nhóm sau: Kiểm soát lạm phát và ổn định tiền tệ Theo K.Marx: “lạm phát là hiện tượng tiền giấy tràn ngập các kênh lưu thông tiền tệ, vượt quá nhu cầu của nền kinh tế thực làm cho tiền tệ bị mất giá và phân phối lại thu nhập quốc dân”. Mtrukhin cho rằng: “trong đời sống tổng mức giá cả tăng trước hết LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 thông qua việc tăng giá không đồng đều ở từng nhóm hàng hoá và rút cuộc dẫn tới việc tăng giá cả nói chung, như vậy có thể xem sự mất giá của đồng tiền là lạm phát”.[11] Theo trường phái Keynes cho rằng: việc tăng nhanh cung tiền tệ sẽ làm cho mức giá cả tăng kéo dài với tỷ lệ cao, do vậy gây nên lạm phát.[11] Tóm lại, tất cả những luận thuyết, những quan điểm về lạm phát đã nêu trên đều đưa ra những biểu hiện ở một mặt nào đó của lạm phát và có một khái niệm được các nhà kinh tế chấp nhận như sau: Lạm phát là hiện tượng xảy ra khi mức giá chung trong nền kinh tế tăng kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định.
Mức chung của giá hàng hóa tức là mức trung bình của giá cả các hàng hóa trong nền kinh tế, nó thể hiện xu thế biến động chung của mức giá cả - biểu thị sức mua của tiền tệ đối với các hàng hóa khác. Ta có thể hiểu một cách đơn giản như sau: lạm phát là một hiện tượng mà mức giá chung của các hàng hóa tăng liên tục trong một thời gian dài, đó là một biểu hiện giá trị đồng tiền bị suy giảm. Khi lạm phát tăng gây ra một hậu quả nghiêm trọng đến nền kinh tế, làm cho nền kinh tế phát triển quá nóng dễ lâm vào tình trạng khủng hoảng, đời sống của người dân khó khăn. Cụ thể: - Khi lạm phát tăng lên ở mức độ cao, thu nhập thực tế của dân cư sẽ giảm, đời sống của nhân dân lao động sa sút, lạm phát còn gây ra hiện tượng đầu cơ tích trữ hàng hóa và hiện tượng chuyển tiền sang các loại hàng hóa khác, làm cho cầu về hàng hóa tăng dẫn tới mất cân đối cung cầu và giá cả hàng hoá tăng lên làm tốc độ lạm phát càng cao; - Lạm phát cao còn gây các rối loạn khác như: làm sai lệch các biến số kinh tế vĩ mô, khi đó mọi người nhất là các chủ thể đầu tư sẽ không an tâm tin tưởng trong việc tính toán công việc đầu tư nên không khuyến khích đầu tư.
Như vậy, nhiệm vụ của NHTW là kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đối nội tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển bình thường, đảm bảo đời sống cho người lao động và đây được xem là mục tiêu hàng đầu của nhiều nước trên thế giới. Tuy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 nhiên, thực chất của việc kiểm soát lạm phát không phải là lạm phát ở mức quá thấp và bằng 0%, lúc này sẽ xuất hiện rủi ro giảm phát, mà kiểm soát lạm phát ở đây là chấp nhận sự biến động với một biên độ cho phép (lạm phát một con số) vì khi lạm phát thấp và ổn định được xem là liều thuốc bổ cho đầu tư và tăng trưởng kinh tế lâu dài. Bên cạnh ổn định giá trị đối nội, NHTW cũng thực hiện ổn định giá trị đối ngoại.Giá trị đối ngoại của đồng tiền được biểu hiện thông qua tỷ giá hối đoái, nó là đại lượng để so sánh về mặt giá trị giữa đồng tiền trong nước với một đồng tiền nước ngoài. Tỷ giá hối đoái tác động mạnh đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu trong nước.
Một tỷ giá quá thấp có tác dụng khuyến khích nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất khẩu tương đối đắt, khó bán ra nước ngoài làm ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ ngoại hối. Ngược lại, một tỷ giá hối đoái cao sẽ kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu vì hàng nhập khẩu đắt hơn, hàng xuất khẩu rẻ hơn, dễ bán ra nước ngoài nên tính cạnh tranh cao. Sự biến động của tỷ giá hối đoái có liên quan đến rất nhiều yếu tố: giá thành sản phẩm xuất khẩu và nhập khẩu, sự di chuyển vốn tiền tệ giữa trong nước và nước ngoài, tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế, tình hình lưu thông tiền tệ, giá cả hàng hóa trong nước, chính sách can thiệp tỷ giá của nhà nước, yếu tố tâm lý,… Tỷ giá hối đoái không chỉ ảnh hưởng đến lĩnh vực thương mại và thanh toán quốc tế mà còn ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.