CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1.1 Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững 1.1 Khái niệm “Phát triển bền vững” theo Báo cáo của Ủy ban thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) (1987), chính là “Phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng thỏa mãn nhu cầu các thế hệ mai sau” đang được sử dụng rộng rãi. Việc đưa ra khái niệm này đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu bản chất và các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững ở các quốc gia. Phát triển bền vững được thể hiện ở cả 3 lĩnh vực: kinh tế - xã hội – môi trường và trọng tâm của nó chính là con người. Mục tiêu của phát triển bền vững mà WCED đưa ra chính là làm thế nào để đạt được phát triển ở hiện tại mà không ảnh hưởng đến cuộc sống và sự phát triển sau này.
Nội hàm về phát triển bền vững được tái khẳng định tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển ở Rio de Janero (Brazil) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững ở Cộng hòa Nam Phi năm 2002. Chủ trương này cho rằng phát triển bền vững là yếu tố quyết định sự tồn vong của nhân loại, phát triển bền vững là việc khai thác các sản phẩm tự nhiên thỏa mãn của các thế hệ hiện tại không gây phương hại đến việc thỏa mãn của các thế hệ trong tương lai. Phát triển bền vững dựa trên 3 trụ cột: (i) Công nghệ hiện đại (ii) Quản trị tốt (iii) Thân thiện với môi trường. Tư tưởng của lý thuyết phát triển bền vững đó là hiện đại hóa và thân thiện với môi trường là một vấn đề quan trọng không chỉ ở hiện tại mà cả tương lai.
Theo Quyết định số 622/QĐ-TTg, ngày 10/5/2017 về việc kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình nghị sự 30 vì sự phát triển bền vững, bao gồm những quan điểm, mục tiêu, giải pháp phát triển bền vững đến năm 2030 của Việt Nam làm cơ sở cho các bộ, ngành, địa phương tổ chức và cá nhân có liên quan triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm đảm bảo phát triển bền vững tại Việt Nam. Một trong những quan điểm đó là khoa học công nghệ là nền tảng, là động 8 lực cho phát triển bền vững đất nước, công nghệ hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi. Một trong những mục tiêu đó là đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững, toàn diện, liên tục tạo việc làm đầy đủ, năng suất và việc làm tốt cho tất cả mọi người. Học giả Lại Trần Tùng quan niệm rằng lĩnh vực công nghệ cao có khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có tính năng vượt trội, giá trị tăng cao thân thiện với môi trường, từ đó hình thành các ngành sản xuất dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất dịch vụ hiện có.
Việt Nam đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức vì vậy, rất cần thiết phát triển khoa học công nghệ cao ở Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ ở Việt Nam. Học giả Ngô Thắng Lợi đưa ra quan điểm Phát triển bền vững phải là sự phát triển gắn kết hài hòa giữa ba khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường, trong đó sự bền vững về kinh tế được xem là điều kiện cần để đảm bảo cho sự bền vững trong phát triển. Theo học giả có 4 vấn đề cần được thực hiện để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững gồm: duy trì tăng trưởng nhanh và bền vững; gắn tăng trưởng kinh tế với chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững; gắn tăng trưởng với nâng cao hiệu quả đạt được của các chỉ tiêu tăng trưởng; bảo đảm tăng trưởng gắn với cân đối vĩ mô chủ yếu của nền kinh tế. “Tăng trưởng bền vững”, thực chất là phản ánh sự bền vững về kinh tế.
Tiêu chí tăng trưởng bền vững phải được thể hiện cùng một lúc cả yêu cầu về số lượng và chất lượng tăng trưởng. Điều đó có nghĩa là: không phải chỉ thể hiện yêu cầu tốc độ tăng trưởng GDP, mà còn phải thể hiện cả ở khả năng duy trì một cách lâu dài, bền bỉ tốc độ tăng trưởng GDP hợp lý và có hiệu quả. Khía cạnh chất lượng tăng trưởng phải được đặt ra xứng tầm với nội dung của nó. Rõ ràng là bền vững trong tăng trưởng chỉ đạt được khi tăng trưởng nhưng phải có hiệu quả hay tạo ra giá trị đóng góp ngày càng lớn.
Số lượng tăng trưởng thường đo lường bằng các chỉ số mang tính truyền thống như: mức và tốc độ tăng trưởng GDP, còn chất lượng tăng trưởng cần nhấn mạnh đến các tiêu chí sau: 9 - Tốc độ tăng trưởng, quy mô GDP: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng gia tăng thu nhập trên địa bàn các địa phương, đặc biệt là đối với Thành phố Hà Nội. Để thực sự đóng góp vai trò đầu tàu, động lực thúc đẩy kinh tế của cả nước, nội dung tiêu chí này ngoài việc thỏa mãn các điều kiện về tiêu chí phát triển bền vững chung, thì đối với Thành phố Hà Nội, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đặt ra phải cao hơn nhiều (có thể là 1 đến 2 lần) so với tốc độ tăng trưởng bình quân của cả nước. Mức GRDP tạo nên trên địa bàn Thành phố Hà Nội có tác dụng lan tỏa ngày càng nhiều đối với cả nước. - So sánh tốc độ tăng trưởng GRDP và tốc độ tăng giá trị sản xuất (GO).
Giá trị gia tăng (GRDP) tăng trưởng với tốc độ chậm hơn GO phản ánh giai đoạn đầu của quá trình phát triển khi nền kinh tế còn trong tình trạng tăng trưởng “nhờ gia công”. Đối với các tỉnh, đặc biệt là thành phố Hà Nội, thì yêu cầu đặt ra phải điều chỉnh kịp thời mối quan hệ tương quan giữa hai tốc độ tăng trưởng này để hướng tới tốc độ tăng trưởng GRDP phải cao hơn. Nếu tốc độ tăng trưởng GRDP cao hơn tốc độ tăng trưởng GO, phản ánh một cấu trúc tăng trưởng hợp lý và có hiệu quả, trong đó các ngành ngày càng được phát triển theo chiều sâu và đảm bảo mối quan hệ tích cực giữa các ngành công nghiệp chế biến và các ngành công nghiệp hỗ trợ. - Hiệu quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế trên địa bàn (trong sự so sánh với các địa phương khác và toàn quốc hoặc tiêu chuẩn quốc tế).
Theo tiêu chí này, tùy theo khả năng thống kê, chúng ta có thể xác định các khía cạnh so sánh giữa kết quả đạt được về tăng trưởng kinh tế trên địa bàn với các yếu tố chi phí để thực hiện nó, hay nói theo cách của kinh tế học thì đó là cái giá phải trả cho thực hiện sự tăng trưởng GRDP. Các chỉ tiêu so sánh có thể thực hiện được đó là năng suất lao động (hiệu quả sử dụng lao động) được tính bằng mức GRDP/lao động theo giá hiện hành hoặc theo giá cố định; suất đầu tư tăng trưởng để tăng 1% GRDP thì cần phải tích lũy bao nhiêu % GRDP, chi phí năng lượng cho một đơn vị thu nhập đầu ra… Yêu cầu đặt ra đối với các địa phương trọng điểm phải đạt được những chỉ số về hiệu quả tăng trưởng cao hơn nhiều so với mức chung và xu hướng nâng cao hiệu quả phải thực sự tích cực. 10 - Mật độ kinh tế của địa phương: đây là một tiêu chí mới cập nhật quan điểm địa kinh tế mới trong giai đoạn hiện nay. Mật độ kinh tế phản ánh mức độ đậm đặc của nền kinh tế tính cho 1 đơn vị km2, có thể là GRDP/km2 hoặc giá trị sản xuất GO/km2.
Tiêu chí này phản ánh hai vấn đề: Một là nó phản ánh khả năng thực tế của địa bàn, nếu mật độ càng cao chứng tỏ khả năng thu hút nguồn lực của địa bàn càng lớn, tính hấp dẫn của địa bàn càng cao; Hai là phản ánh hiệu quả của hoạt động kinh tế trên địa bàn. Mật độ kinh tế địa bàn càng cao thể hiện bản thân địa bàn đạt hiệu qủa kinh tế cao; mặt khác, nó phản ánh vai trò lan tỏa về kinh tế đến các địa bàn khác trong cả nước để thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong phạm vi cả nước. - Cấu trúc tăng trưởng GRDP. Đây là một yếu tố phản ánh khá rõ nét chất lượng tăng trưởng kinh tế.
Cấu trúc tăng trưởng phản ánh xu thế hiệu quả và bền vững của các yếu tố bên trong cấu trúc tăng trưởng GRDP, đó là cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào (K, L, TFP), cấu trúc tăng trưởng theo đầu ra (C, G, I, NX) và cấu trúc tăng trưởng theo ngành. Kết quả cấu trúc tăng trưởng theo ngành phản ánh qua cơ cấu ngành kinh tế của địa phương và đó là sự thể hiện tính bền vững trong nội tại kinh tế địa phương. Cấu trúc tăng trưởng thể hiện sự đóng góp của từng yếu tố vào tăng trửng (quy mô, tính chất và tác động qua lại của từng yếu tố) như thế nào khẳng định mô hình tăng trưởng của địa phương là gì? Và thông qua mô hình phản ánh bản chất của tăng trưởng, chúng ta có thể đánh giá chất lượng của tăng trưởng kinh tế địa phương đó, hiệu quả và khả năng duy trì các chỉ tiêu đó như thế nào? Thông thường, nếu đứng trên góc độ cấu trúc tăng trưởng theo đầu vào, nếu hàm lượng công nghệ cao và chế biến sâu trở thành động lực chính của tăng trưởng, quyết định nội dung về chất của cơ cấu kinh tế của địa phương thì đây là biểu hiện của tăng trưởng có chất lượng và hiệu quả cao. Hay đứng trên góc độ chi tiêu, nếu đóng góp các yếu tố đầu tư, xuất khẩu vào tăng trưởng cũng phản ánh tính chất hiệu quả của mô hình tăng trưởng của địa phương đó.
Đứng trên góc độ cấu trúc tăng trưởng theo ngành, nếu đóng góp của các ngành phi sản xuất vào tăng trưởng cao, điều đó phản ánh nền kinh tế địa phương đã bước sang giai đoạn phát triển coa hơn, 11 hoặc là đóng góp vào tăng trưởng các ngành phi nông nghiệp càng cao thì chứng tỏ trình độ phát triển kinh tế của địa phương có xu thế mạnh hơn và hiệu quả của tăng trưởng cao hơn. - Cơ cấu ngành kinh tế: tiêu chí này phản ánh tính hiệu qủa của tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời phản ánh trình độ phát triển của địa phương.