CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT, SỬ DỤNG NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Tổ chức lao động quốc tế thì “nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động” [30].
Còn Ngân hàng Thế giới cho rằng “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người, bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân” [20]. Với quan điểm như trên sẽ có hai cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực chất lượng cao: (1) nguồn nhân lực chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật; và (2) nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, tạo ra năng suất và hiệu quả cao, có những đóng góp đáng kể cho sự phát triển xã hội. Các nhà khoa học cho rằng nhân lực chất lượng cao phải là những người có trình độ học vấn, chuyên môn cao, kỹ năng nghề nghiệp giỏi, có khả năng vận dụng tri thức được đào tạo vào thực tiễn, mang lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; có sức khỏe tốt đáp ứng yêu cầu công việc: “nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân lực có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng lao động giỏi, có phẩm chất tốt đủ sức đáp ứng một cách tối ưu đòi hỏi ngày càng cao của quá trình sản xuất, tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả nhằm đạt tới sự phát triển nhanh và bền vững” [36] hoặc “nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận chất lượng cao của nguồn nhân lực đất nước, đó là những người có tài năng, chuyên môn giỏi theo lĩnh vực hoạt động và chuyên môn của mình, có đầy đủ 8 đạo đức của người cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vừa “hồng” vừa “chuyên”.
Theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận ưu tú nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có sức khỏe tốt (theo độ tuổi); luôn đi đầu trong lao động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là những “cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia, quản trị doanh nghiệp giỏi, lao động lành nghề và cán bộ khoa học công nghệ đầu đàn” [14]. Ngoài thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao, các nhà khoa học còn sử dụng các thuật ngữ khác như những khái niệm đồng nghĩa: “nhân lực trình độ cao”, “nhân lực tài năng”, “nhân lực chất xám”, “nhân lực tri thức”. Trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của các nhà khoa học về nhân lực chất lượng cao, có thể đưa ra khái niệm như sau: nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường là những người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có trình độ học vấn, chuyên môn cao về các lĩnh vực tài nguyên và môi trường; có trình độ tay nghề, kỹ năng lao động, thành thạo về chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành công việc đạt chất lượng, hiệu quả cao.
Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về chính sách công của các nhà khoa học trên thế giới, như: “chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp để đạt được các mục tiêu đó” (William Jenkin) [38]; hay “chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm 9 hay không làm” (Thomas R. Dye) [35]; hoặc “chính sách công là một sự kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau bao gồm cả các quyết định không hành động do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra” (William N. Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường cần phải bao gồm các nội dung, tiêu chuẩn cụ thể về hỗ trợ, tạo điều kiện để thu hút, sử dụng được nhân lực chất lượng cao vào làm việc tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, như: - Xác định danh mục các lĩnh vực ngành tài nguyên và môi trường cần thu hút, sử dụng: tùy vào từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể và mục tiêu, định hướng phát triển của Bộ, ngành theo mỗi giai đoạn mà Bộ sẽ có danh mục các lĩnh vực thuộc ngành tài nguyên và môi trường cần thu hút nhân lực chất lượng cao khác nhau theo mỗi giai đoạn. - Tiêu chuẩn đối với các đối tượng được thu hút, sử dụng: các đối tượng thu hút cần phải đạt được các tiêu chuẩn nhất định về thể lực, trí lực, các phẩm chất đạo đức…, và trong mỗi lĩnh vực chuyên môn được thu hút với các vị trí nhân sự cụ thể sẽ có những yêu cầu khác nhau.
- Hình thức thu hút, sử dụng: có nhiều hình thức thu hút, sử dụng nhân lực đối với mỗi lĩnh vực, vị trí công việc cụ thể sẽ có hình thức thu hút, sử dụng phù hợp, có thể là thu hút trực tiếp, ưu tiên tiếp nhận, tuyển dụng… - Các chế độ đãi ngộ với các đối tượng được thu hút, sử dụng: chế độ đãi ngộ thường phải có sự hấp dẫn để có thể thu hút được nhân lực chất lượng cao vào làm việc, chế độ đãi ngộ thường dựa trên nguồn lực của Bộ, ngành, lĩnh vực và sự tương quan một cách tương đối với các Bộ, ngành khác, chế độ đãi ngộ không chỉ về vật chất mà cả về tinh thần. 10 - Vấn đề bố trí, sử dụng và môi trường, điều kiện làm việc cho đối tượng được thu hút, sử dụng: để đem lại hiệu quả công việc và tránh lãng phí nhân lực chất lượng cao, thì cần phải có sự bố trí, sắp xếp nhân lực chất lượng cao vào các vị trí công việc một cách phù hợp với chuyên môn và trình độ, năng lực. Tạo dựng môi trường làm việc là điều kiện cần thiết để để nhân lực thực sự cảm thấy thoải mái, được tôn trọng, thấy được vai trò của mình để họ tự nguyện cống hiến năng lực của mình một cách tốt nhất. - Cơ hội đào tạo, bồi dưỡng để ngày càng phát triển, nâng cao trình độ của đối tượng được thu hút, sử dụng: để củng cố và nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn đáp ứng ngày càng tốt hơn công việc của mình và đảm nhận các công việc phức tạp hơn thì đào tạo, bồi dưỡng sau khi vào làm việc là một vấn đề quan trọng.
Hơn nữa, các đối tượng cũng xem xét cơ hội phát triển của mình có hay không, và phát triển ở mức nào thì họ mới quyết định về Bộ, ngành đó để làm việc và cống hiến. Từ những phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường như sau: Chính sách thu hút, sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường tại Bộ Tài nguyên và Môi trường là tổng thể các quan điểm và biện pháp của Bộ Tài nguyên và Môi trường về thu hút và sử dụng nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường vào làm việc tại Bộ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Bộ. Từ khái niệm nêu trên, có thể thấy nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường sẽ có những đặc điểm sau: - Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt. Họ là những người có lòng yêu nước, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước; có bản lĩnh chính trị vững vàng, lối sống trung thực, không cơ hội, 11 không tham tham nhũng; kiên quyết đấu tranh với các hành vi sai trái, tiêu cực; là tấm gương sáng để đồng nghiệp học tập, noi theo.
- Có trình độ học vấn cao. Nói đến trình độ học vấn là nói đến trình độ được học tập, được đào tạo của con người. Trình độ học vấn phản ánh trình độ nhận thức, tri thức, năng lực trí tuệ của con người. Mỗi lĩnh vực, ngành nghề, tổ chức, tùy đặc điểm, tính chất hoạt động, yêu cầu nhiệm vụ ở từng giai đoạn lịch sử cụ thể mà đặt ra yêu cầu đòi hỏi về trình độ học vấn của nguồn nhân lực khác nhau.
Tuy nhiên, không nên hiểu rằng, những người có bằng cấp, chứng chỉ, trình độ học vấn cao về các lĩnh vực tài nguyên và môi trường đều là nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường. Đây là mới chỉ là một tiêu chí - điều kiện cần, ngoài trình độ học vấn còn phải căn cứ vào các tiêu chí khác - điều kiện đủ, để xem xét. Những người có bằng cấp thạc sỹ, thậm chí tiến sỹ nhưng trên thực tế nếu họ không thể hiện đúng vai trò, vị thế, không phát huy được năng lực chuyên môn của mình vào công việc; hoàn thành chức trách, nhiệm vụ với chất lượng, hiệu quả thấp; không đóng góp được nhiều cho tổ chức thì chưa phải là nhân lực chất lượng cao ngành tài nguyên và môi trường. - Có năng lực chuyên môn giỏi.
Năng lực chuyên môn là năng lực hoạt động của con người trong một lĩnh vực ngành nghề nhất định. Người có năng lực chuyên môn giỏi trong ngành tài nguyên và môi trường phải là người có khả năng phát huy được sở trường, năng lực chuyên môn của mình trong quá trình công tác; có kiến thức thực tiễn, tinh thông nghiệp vụ, am hiểu sâu rộng về ngành, nghề lĩnh vực công tác của mình; có khả năng tư duy, sáng tạo, đổi mới trong công việc;biết tiếp thu, kế thừa, phát huy kết quả nghiên cứu của những người đi trước. - Có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng nhiệm vụ chuyên môn.