Luận văn thạc sĩ ussh chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại thành phố hồ chí minh

Luận văn thạc sĩ phân tích chính sách quản lý sản phẩm đầu ra, thúc đẩy đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp công ích TP Hồ Chí Minh.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

96
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Phạm vi nghiên cứu

1.5. Câu hỏi nghiên cứu

1.6. Giả thuyết nghiên cứu

1.7. Phương pháp nghiên cứu

1.8. Kết cấu của Luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH

2.1. Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và các khái niệm có liên quan

2.1.1. Khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra

2.1.2. Khái niệm chính sách

2.1.3. Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra

2.1.4. Khái niệm doanh nghiệp công ích và đổi mới công nghệ

2.1.5. Khái niệm hàng hóa công cộng, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp công ích

2.1.6. Một số đặc điểm của doanh nghiệp công ích

2.1.7. Khái niệm công nghệ và đổi mới công nghệ

2.2. Nhận diện và đánh giá thực trạng chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích với hoạt động đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công ích của Tp. Hồ Chí Minh

2.2.1. Thực trạng chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích của Tp. Hồ Chí Minh

2.2.2. Khái quát về hoạt động của các doanh nghiệp công ích

2.2.3. Nhận diện các chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích của Tp. Hồ Chí Minh

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM, DỊCH VỤ CÔNG ÍCH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

3.1. Tác động dương tính của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ

3.2. Tác động âm tính của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ

3.3. Tác động ngoại biên của chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích tại các doanh nghiệp công ích đối với hoạt động đổi mới công nghệ

4. CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ Ở CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH

4.1. Các quan điểm về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích

4.2. Một số giải pháp triển khai chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra tại doanh nghiệp công ích TP

Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra tại các doanh nghiệp công ích TP.HCM đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng dịch vụ. Các doanh nghiệp này không chỉ cung cấp hàng hóa công cộng mà còn phải đảm bảo hiệu quả kinh tế và xã hội. Việc áp dụng các chính sách quản lý hiệu quả sẽ giúp các doanh nghiệp công ích hoạt động hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu của người dân.

1.1. Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra

Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra là tập hợp các quy định và hướng dẫn nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả của sản phẩm, dịch vụ công ích. Điều này bao gồm việc xác định tiêu chuẩn chất lượng, quy trình kiểm tra và đánh giá sản phẩm.

1.2. Vai trò của doanh nghiệp công ích trong phát triển bền vững

Doanh nghiệp công ích đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ thiết yếu cho cộng đồng. Họ không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội thông qua việc cung cấp hàng hóa công cộng.

II. Thách thức trong quản lý sản phẩm đầu ra tại doanh nghiệp công ích TP

Các doanh nghiệp công ích tại TP.HCM đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc quản lý sản phẩm đầu ra. Những thách thức này bao gồm công nghệ lạc hậu, quy trình quản lý chưa hiệu quả và sự thiếu hụt nguồn lực. Điều này ảnh hưởng đến khả năng cung cấp dịch vụ và sản phẩm chất lượng cho người dân.

2.1. Công nghệ lạc hậu và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm

Nhiều doanh nghiệp công ích vẫn sử dụng công nghệ cũ, dẫn đến việc sản phẩm không đáp ứng được yêu cầu chất lượng. Việc đổi mới công nghệ là cần thiết để nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng dịch vụ.

2.2. Quy trình quản lý chưa hiệu quả

Quy trình quản lý sản phẩm đầu ra tại nhiều doanh nghiệp công ích còn thiếu tính linh hoạt và chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường. Điều này dẫn đến sự chậm trễ trong việc cung cấp dịch vụ cho người dân.

III. Phương pháp đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp công ích TP

Để nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp công ích cần áp dụng các phương pháp đổi mới công nghệ. Việc này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

3.1. Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển

Đầu tư vào nghiên cứu và phát triển là một trong những phương pháp quan trọng để đổi mới công nghệ. Các doanh nghiệp cần xây dựng các chương trình nghiên cứu nhằm phát triển sản phẩm mới và cải tiến quy trình sản xuất.

3.2. Hợp tác với các tổ chức nghiên cứu

Hợp tác với các tổ chức nghiên cứu và trường đại học sẽ giúp doanh nghiệp công ích tiếp cận được công nghệ mới và các giải pháp đổi mới hiệu quả hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn của chính sách quản lý sản phẩm đầu ra

Chính sách quản lý sản phẩm đầu ra đã được áp dụng tại nhiều doanh nghiệp công ích và đã mang lại những kết quả tích cực. Việc áp dụng các chính sách này giúp nâng cao chất lượng dịch vụ và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

4.1. Kết quả đạt được từ việc áp dụng chính sách

Nhiều doanh nghiệp công ích đã cải thiện được chất lượng dịch vụ nhờ vào việc áp dụng chính sách quản lý sản phẩm đầu ra. Điều này đã giúp tăng cường sự hài lòng của người dân.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các doanh nghiệp công ích cần rút ra bài học từ những thành công và thất bại trong việc áp dụng chính sách quản lý sản phẩm đầu ra để cải thiện quy trình và nâng cao hiệu quả hoạt động.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho doanh nghiệp công ích TP

Kết luận, chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và đổi mới công nghệ là yếu tố then chốt giúp các doanh nghiệp công ích tại TP.HCM hoạt động hiệu quả hơn. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc cải thiện công nghệ và quy trình quản lý để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Doanh nghiệp công ích cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững, tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ và sản phẩm, đồng thời bảo vệ môi trường.

5.2. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng

Sự tham gia của cộng đồng trong quá trình quản lý và cung cấp dịch vụ sẽ giúp doanh nghiệp công ích hiểu rõ hơn về nhu cầu của người dân và cải thiện chất lượng dịch vụ.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh chính sách quản lý sản phẩm đầu ra nhằm thúc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công ích tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và hoạt động đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp công ích. Nhận diện và phân tích thực trạng chính sách quản lý sản phẩm, dịch vụ công ích với hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp công ích của Tp. Hồ Chí Minh - Chương 3.

Định hướng chính sách quản lý sản phẩm đầu ra gắn với một số giải pháp nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ ở các doanh nghiệp công ích. - Kết luận và khuyến nghị. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ SẢN PHẨM ĐẦU RA VÀ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP CÔNG ÍCH 1.

Khái niệm chính sách quản lý sản phẩm đầu ra và các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm quản lý sản phẩm đầu ra Chính sách sản phẩm đầu ra bao gồm các hoạt động và giải pháp nhằm đề ra, thực hiện các chiến lược và chiến thuật về sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp. Trong đó, sản phẩm theo nghĩa căn bản nhất được hiểu là vật phẩm tổng hợp các đặc tính về vật lý, hóa học, sinh học được tập hợp trong một đặc tính đồng nhất, là vật mang giá trị sử dụng. Khái niệm sản phẩm không đồng nhất với ý nghĩa hàng hóa bởi hàng hóa là những sản phẩm được đem ra trao đổi và buôn bán trên thị trường.

Theo tiếp cận hệ thống đối với một quy trình sản xuất, đầu vào sẽ bao gồm các yếu tố sản xuất như: vốn, nhân công, vật tư, công nghệ, nguyên liệu, năng lượng, phương thức quản lý… qua 1 quy trình sản xuất sẽ tạo ra hệ thống các sản phẩm đầu ra.Tuy nhiên quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chưa thể kết thúc ở đây, nếu doanh nghiệp chỉ sản xuất để tạo ra sản phẩm rồi xếp vào kho hoặc để ban phát thì doanh nghiệp đó sẽ không tồn tại trong nền KTTT. Vì thế đòi hỏi doanh nghiệp đó phải trao bán sản phẩm trên thị trường.Và đương nhiên muốn thu về lợi nhuận tốt nhất, hàng hóa chiếm được thị phần cao nhất thì sản phẩm đầu ra phải đáp ứng với nhu cầu thị trường, có giá bán thích hợp…Vì vậy các doanh nhân phải tìm hiểu kĩ thị trường, có tiềm lực và năng lực và huy động các yếu tố đầu vào…nhất là phải đánh giá trước hiệu quả kinh doanh, quản lý được kết quả đầu ra ngay từ khi chuẩn bị ra quyết định sản xuất. Quản lý sản phẩm đầu ra thực chất là cách nói khác của quản lý chất lượng theo sản phẩm đầu ra. Để hiểu rõ hơn về phương pháp quản lý chất lượng này, cần làm rõ nội hàm của khái niệm chất lượng cũng như đặc điểm của chất lượng.

Theo giáo trình quản lý chất lượng sản phẩm, chất lượng được hiểu là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu, trong đó yêu cầu là những nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc. Đặc điểm của chất lượng bao gồm: 1. Chất lượng được đo bằng sự thoã mãn các yêu cầu. Nếu một sản phẩmvì lý do nào đó mà không đáp ứng đựơc yêu cầu, không được thị trường chấpnhận thì phải bị 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạora sản phẩm đó có thể rất hiện đại.

Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở đểcác nhà quản lý định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình. Chất lượng được đo bằng sự thoả mãn các yêu cầu, mà yêu cầu luônl uôn biến động nên chất lượng cũng luôn biến đổi theo thời gian, không gian, điều kiện sử dụng. Vì vậy phải định kỳ xem xét lại các yêu cầu chất lượng. Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần phải xét mọi đặc tính của đối tượng, có liên quan đến sự thoả mãn những yêu cầu cụ thể.

Chất lượng không phải chỉ là thuộc tính của sản phẩm, hàng hoá.Chất lượng có thể áp dụng cho mọi thực thể, có thể là sản phẩm, một hoạt động, một quá trình, một doanh nghiệp hay một con người. Cần phân biệt giữa chất lượng và cấp chất lượng. Cấp chất lượng là chủng loại hay thứ hạng của các yêu cầu chất lượng khác nhau đối với sản phẩm, quá trình hay hệ thống có cùng chức năng sử dụng. Ví dụ căn hộ cấp 1 hay cấp 4 là cấp chất lượng của nhà ở.

Cấp chất lượng phản ánh khác biệt đã định hướng hoặc đã thừa nhận trong các yêucầu chất lượng. Một đối tượng ở cấp cao cũng có thể có chất lượng không đápứng các yêu cầu (đã định ra cho đối tượng đó) và ngược lại. Trong nền kinh tế hiện đại khi nói đến chất lượng không thể bỏ qua các yếu tố giá cả và dịch vụ trước, trong và sau khi bán. Đó là những yếu tố mà khách hàng nào cũng quan tâm sau khi thấy sản phẩm mà họ định mua thoả mãn yêu cầu của họ.

Ngoài ra vấn đề giao hàng đúng lúc, đúng thời hạn cũng là yếu tố vô cùng quan trọng trong sản xuất hiện đại, nhất là khi các phương pháp sản xuất “vừa – đúng lúc”(Just - in - time: sản xuất những gì cần thiết, đúng lúc, đúng số lượng), “không kho”( Non - stock - production) đang được thịnh hành ở các công ty hàng đầu. Để thoả mãn yêu cầu, cũng còn cần quan tâm đến những yếu tố khác như thái độ của người làm các dịch vụ tiếp xúc với khách hàng, từ người thường trực, tiếp tân đến trực điện thoại và cảnh quan, môi trường làm việc của công ty. Chất lượng luôn có thể đặc trưng qua những chỉ tiêu có thể biểu hiện bằng một số trị số và sự định lượng, đó là mức chất lượng. Các yêu cầu này được gọi là các yêu cầu chất lượng, hay còn gọi là tiêu chuẩn chất lượng.

Các yêu cầu chất lượng phải phản ánh đầy đủ yêu cầu đã hoặc chưa công bố của khách hàng và các yêu cầu xã hội. Các 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com yêu cầu xã hội là những điều bắt buộc quy định trong luật pháp, trong các chế định. Căn cứ vào các yêu cầu chất lượng đã được xác định, các nhà thiết kế sẽ xây dựng nên các yêu cầu kỹ thuật/quy định kỹ thuật cho sản phẩm bao gồm cả các bộ phận, chi tiết của sản phẩm sao cho sản phẩm cuối cùng sẽ có tính năng thỏa mãn các yêu cầu chất lượng đã định. Bởi vậy các yêu cầu chất lượng còn gọi là các yêu cầu tính năng/quy định tính năng.

Các tiêu chuẩn chất lượng là công cụ thiết thực cho hoạt động đo lường và quản lý chất lượng trong thực tiễn, là cơ sở kiểm định hiệu quả và hiệu lực của quản lý. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được hiểu là quản lý chất lượng. Theo tiêu chuẩn ISO 9000:2000, TCVN ISO 9000:2000 quản lý chất lượng là tổng thể: “Các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng” và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng. Các phương thức của quản lý chất lượng bao gồm: - Kiểm tra chất lượng là hoạt động như đo, xem xét, thử nghiệm, định cỡ một hay nhiều đặc tính của đối tượng và so sánh kết quả với yêu cầu nhằm xác định sự phù hợp của mỗi đặc tính.

Kiểm tra nhằm sàng lọc sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng hay không. - Kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuật mang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng bao gồm kiểm sát át con người, kiểm soát phương pháp và quá trình, kiểm soát đầu vào, kiểm soát thiết bị, kiểm soát môi trường. Kiểm soát theo chu trình Derming là hoạt động kiểm soát vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng. - Đảm bảo chất lượng là mọi hành động có kế hoạch và có hệ thống nhằm đem lại lòng tin thỏa đáng rằng sản phẩm thỏa mãn các yêu cầu đã định đối với chất lượng.

Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO đã xây dựng và ban hành bộ tiêu chuẩn ISO 9000 để giúp cho các tổ chức có được một mô hình chung về đảm bảo chất lượng. - Kiểm soát chất lượng toàn diện theo định nghĩa của Ủy ban Giải thưởng Derming của Nhật là “Hoạt động thiết kế, sản xuất và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ có chất lượng theo yêu cầu của khách hàng một cách kinh tế, dựa trên nguyên tắc định hướng vào khách hàng và xem xét đầy đủ đến phúc lợi xã hội. Nó đạt được mục tiêu của công ty thông qua việc lặp lại một cách hiệu quả chu trình PDCA, bao gồm 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lập kế hoạch - thực hiện - kiểm tra - hành động điều chỉnh. Điều đó được thực hiện bằng cách làm cho toàn thể nhân viên thông hiểu và áp dụng tư tưởng và phương pháp thống kê đối với mọi hoạt động nhằm đảm bảo chất lượng.

Các hoạt động này là một chuỗi công việc, bao gồm khảo sát, nghiên cứu, phát triển, thiết kế, thu mua, sản xuất, kiểm tra và marketing cùng với tất cả các hoạt động khác cả bên trong và bên ngoài công ty.” - Quản lý chất lượng toàn diện: Là một phương pháp quản lý của một tổ chức, định hướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sự thành công dài hạn thông qua sự thoả mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viên của công ty đó và của xã hội. Căn cứ vào những phân tích về chất lượng, quản lý chất lượng nói chung của các tổ chức, có thể hiểu Quản lý sản phẩm đầu ra là tổng thể các hoạt động có phối hợp để định hƣớng và kiểm soát một tổ chức về chất lƣợng sản phẩm đầu ra. Cụ thể đây là phƣơng thức quản lý đảm bảo cho ngƣời cung cấp sản phẩm đầu ra có quyền tự chủ trong quản lý để quyết định những đầu vào cần thiết để sản xuất đầu ra cũng nhƣ đảm bảo đƣợc chất lƣợng sản phẩm đầu ra. Quy trình quản lý sản phẩm đầu ra theo quan điểm của tác giả cần được được thực hiện theo mô hình2 sau: 2 Nguyễn Hồng Hà, Đổi mới phương thức cấp phát ngân sách gắn với kết quả đầu ra, http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-binh-luan/doi-moi-phuong-thuc-cap-phat-ngan-sach-gan- voi-ket-qua-dau-ra-35049.htm, 4/11/2013 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ghi chú : 1.Các tính toán kinh tế xác định dự toán chi tiêu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ