Chính sách phát triển thông tin khoa học và công nghệ trong xu thế hội nhập quốc tế

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích ussh chính sách phát triển thông tin khoa học và công nghệ trong xu thế hội nhập quốc tế, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

112
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THÔNG TIN KH&CN

1.1. Chính sách

1.2. Khái niệm phát triển

1.3. Một số khái niệm liên quan đến thông tin KH&CN

1.4. Một số khái niệm liên quan đến hội nhập

1.5. Hội nhập quốc tế

1.6. Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ

1.7. Vai trò của thông tin khoa học

1.7.1. Vai trò của thông tin trong xã hội

1.7.2. Vai trò của thông tin khoa học đối với công tác nghiên cứu

1.7.3. Vai trò của thông tin khoa học đối với phát triển kinh tế đất nước

1.7.4. Vai trò của thông tin khoa học đối với phản biện xã hội

2. CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THÔNG TIN KH&CN CỦA CỤC THÔNG TIN KH&CN QUỐC GIA NÓI RIÊNG VÀ CỦA VIỆT NAM NÓI CHUNG

2.1. Chính sách phát triển nguồn tin khoa học và công nghệ

2.2. Chính sách phát triển nguồn tin KH&CN trong nước

2.3. Chính sách phát triển nguồn tin KH&CN nước ngoài

2.4. Chính sách điều hòa, phối hợp trong phát triển nguồn tin và chia sẻ nguồn tin thông qua Liên hợp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử

2.5. Chính sách phát triển hạ tầng thông tin, thống kê KH&CN quốc gia về KH&CN. Mạng Thông tin KH&CN quốc gia

2.6. Chính sách hội nhập quốc tế trong lĩnh vực thông tin KH&CN thông qua tiếp cận và áp dụng các chuẩn quốc tế

2.6.1. Đăng ký xuất bản phẩm nhiều kỳ quốc tế (ISSN)

2.6.2. Tạp chí KH&CN Việt Nam trực tuyến (VJOL)

2.6.3. CSDL Tài liệu KH&CN Việt Nam bằng tiếng Anh

2.7. Chính sách kết hợp chặt chẽ giữa thông tin KH&CN với thống kê KH&CN

2.8. Chính sách đáp ứng nhu cầu thông tin thông qua cung cấp hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin có giá trị gia tăng cao, phù hợp với từng nhóm người dùng tin cụ thể

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG XU THẾ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

3.1. Hoạt động thông tin-thư viện KH&CN của các nước trong khu vực và thế giới

3.1.1. Hoạt động thông tin-thư viện KH&CN của các nước ASEAN

3.1.2. Hoạt động Thông tin KH&CN ở Trung Quốc và Ấn Độ

3.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia nói riêng và Việt Nam nói chung

3.3. Đề xuất chính sách phát triển thông tin KH&CN trong xu thế hội nhập quốc tế

3.3.1. Chính sách thu thập, xử lý và cung cấp, chia sẻ các nguồn thông tin KH&CN trong nước

3.3.2. Chính sách chọn lọc, bổ sung và chia sẻ các nguồn tin KH&CN có giá trị của thế giới phục vụ hiệu quả các lĩnh vực phát triển ưu tiên, chiến lược của đất nước hướng tới bảo đảm ngưỡng an ninh thông tin KH&CN quốc gia

3.3.3. Chính sách điều hoà, phối hợp trong bổ sung, chia sẻ nguồn tin KH&CN trong phạm vi cả nước

3.3.4. Chính sách triển khai công tác tiêu chuẩn hoá, áp dụng rộng rãi các chuẩn quốc tế trong lĩnh vực thông tin KH&CN

3.3.5. Chính sách tập trung chỉ đạo và triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN

3.3.6. Chính sách mở rộng kết nối và nâng cao hiệu quả sử dụng Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam

3.3.7. Chính sách nâng cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin hiện có và triển khai các sản phẩm, dịch vụ thông tin mới có giá trị gia tăng cao đáp ứng nhu cầu thông tin trong lãnh đạo, quản lý, nghiên cứu, đào tạo và đổi mới sáng tạo

Tóm tắt

I. Tổng quan về chính sách phát triển thông tin khoa học và công nghệ

Chính sách phát triển thông tin khoa học và công nghệ (KH&CN) đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Thông tin KH&CN không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững. Việc xây dựng và thực hiện chính sách này cần phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản như tính minh bạch, khả năng tiếp cận và sự hợp tác quốc tế.

1.1. Khái niệm và vai trò của chính sách thông tin KH CN

Chính sách thông tin KH&CN được hiểu là hệ thống các quy định, hướng dẫn nhằm phát triển và quản lý thông tin trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Vai trò của chính sách này là tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thu thập, xử lý và chia sẻ thông tin, từ đó thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế.

1.2. Tình hình hiện tại của chính sách thông tin KH CN tại Việt Nam

Hiện nay, chính sách thông tin KH&CN tại Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc phát triển hạ tầng thông tin, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua, như việc thiếu nguồn lực và sự phối hợp giữa các cơ quan.

II. Thách thức trong phát triển thông tin KH CN trong hội nhập quốc tế

Việc hội nhập quốc tế mang lại nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức cho chính sách phát triển thông tin KH&CN. Các quốc gia cần phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút và sử dụng thông tin KH&CN. Điều này đòi hỏi một chiến lược rõ ràng và hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng thông tin.

2.1. Sự cạnh tranh trong việc thu hút thông tin KH CN

Sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong việc thu hút thông tin KH&CN ngày càng gia tăng. Các quốc gia phát triển thường có lợi thế hơn về nguồn lực và công nghệ, điều này tạo ra áp lực lớn cho các nước đang phát triển như Việt Nam.

2.2. Thiếu hụt nguồn lực và hạ tầng thông tin

Một trong những thách thức lớn nhất là thiếu hụt nguồn lực tài chính và hạ tầng thông tin. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận và sử dụng thông tin KH&CN, từ đó làm giảm hiệu quả trong việc phát triển kinh tế và xã hội.

III. Phương pháp phát triển thông tin KH CN hiệu quả trong hội nhập quốc tế

Để phát triển thông tin KH&CN hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp hiện đại và phù hợp với xu thế toàn cầu. Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, tăng cường hợp tác quốc tế và đào tạo nguồn nhân lực là những yếu tố then chốt.

3.1. Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin KH CN

Cơ sở dữ liệu quốc gia về thông tin KH&CN cần được xây dựng và phát triển để cung cấp thông tin kịp thời và chính xác cho các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia trên trường quốc tế.

3.2. Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thông tin KH CN

Hợp tác quốc tế là một yếu tố quan trọng trong việc phát triển thông tin KH&CN. Việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm giữa các quốc gia sẽ giúp nâng cao chất lượng thông tin và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

IV. Ứng dụng thực tiễn của chính sách phát triển thông tin KH CN

Chính sách phát triển thông tin KH&CN đã được áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ giáo dục đến công nghiệp. Những ứng dụng này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả công việc mà còn tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế.

4.1. Ứng dụng trong giáo dục và đào tạo

Thông tin KH&CN đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Việc cung cấp thông tin kịp thời giúp sinh viên và giảng viên tiếp cận với tri thức mới nhất, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo.

4.2. Ứng dụng trong nghiên cứu và phát triển

Trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, thông tin KH&CN là yếu tố quyết định cho sự thành công của các dự án. Việc sử dụng thông tin chính xác và kịp thời giúp các nhà nghiên cứu đưa ra các giải pháp hiệu quả hơn.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của chính sách phát triển thông tin KH CN

Chính sách phát triển thông tin KH&CN cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thời đại hội nhập. Việc đầu tư vào hạ tầng thông tin và nguồn nhân lực sẽ là chìa khóa cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Trong tương lai, chính sách phát triển thông tin KH&CN cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng thông tin và khả năng tiếp cận. Điều này sẽ giúp các quốc gia phát triển bền vững và nâng cao vị thế trên trường quốc tế.

5.2. Tầm quan trọng của việc hợp tác quốc tế

Hợp tác quốc tế sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thông tin KH&CN. Việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm giữa các quốc gia sẽ giúp nâng cao chất lượng thông tin và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

22/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển thông tin khoa học và công nghệ. Chương 2: Hiện trạng chính sách phát triển thông tin KH&CN của Cục Thông tin KH&CN quốc gia nói riêng và của Việt Nam nói chung. Chương 3: Đề xuất chính sách phát triển thông tin KH&CN trong xu thế hội nhập quốc tế. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách phát triển thông tin KH&CN 1.

Chính sách Theo James E. Anderson đưa ra định nghĩa về chính sách như sau: “Chính sách là quá trình hành động có mục tiêu, mà một hoặc một số chủ thể theo đuổi, để giải quyết những vấn đề mà họ quan tâm” [10, tr. Có thể thấy đây là một định nghĩa hết sức cô đọng, có tầm khái quát cao về chính sách. Tuy nhiên, định nghĩa này mới nhấn mạnh vào hành động có mục tiêu, vào chủ thể với sự quan tâm thiết thực của họ.

Định nghĩa nêu trên không chỉ ra một cách rõ ràng khách thể của chính sách là ai, ưu tiên, ưu đãi của chính sách là gì, đặc biệt chưa cụ thể hoá nội hàm của chính sách bao gồm những gì. Yêu cầu và mức độ thể chế hoá chính sách không được đề cập tới trong cách định định nghĩa của James E. Về phần mình, PGS. TS Vũ Cao Đàm đưa ra định nghĩa về chính sách như sau: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”.

Như vậy, nói về một quyết định chính sách, người quản lý có thể hiểu theo những khía cạnh như sau: - Chính sách là một tập hợp biện pháp. Đó có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, biện pháp động viên tinh thần, một biện pháp mệnh lệnh hành chính hoặc một biện pháp ưu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội; - Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa dưới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dưới luật như: nghị định, chỉ thị của chính phủ; thông tư hướng dẫn của các bộ, hoặc các văn bản quy định nội bộ của các tổ chức (doanh nghiệp, trường học,.); - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội. Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó; - Chính sách phải hướng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội. Chẳng hạn, mục tiêu kinh doanh của 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp, mục tiêu đào tạo của nhà trường, mục tiêu phát triển của một địa phương, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc của một quốc gia,.

Tác giả Luận văn hoàn toàn đồng ý với cách định nghĩa và nội hàm của khái niệm “chính sách” nêu trên của PGS. TS Vũ Cao Đàm. Cách định nghĩa này vừa đưa ra được nội hàm đầy đủ của khái niệm chính sách vừa gợi mở, hướng dẫn cho chủ thể phải làm gì, tiếp cận ra sao, nội dung và thể thức cần phải có khi xây dựng và ban hành một chính sách cụ thể. Điều đó cũng nhấn mạnh đến đối tượng, khách thể của chính sách cần được quan tâm ngay trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách cụ thể.

Khái niệm phát triển Theo quan điểm biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp độ cao hơn. Quan điểm duy vật biện chứng đối lập với quan điểm duy tâm và tôn giáo về nguồn gốc của sự phát triển. Quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong bản thân sự vật. Đó là do mâu thuẫn trong chính sự vật quy định.

Quá trình giải quyết liên tục mâu thuẫn trong bản thân sự vật, do đó, cũng là quá trình tự thân phát triển của mọi sự vật. Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, “phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật”. Theo quan điểm này, phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung. Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động - xu hướng vận động đi lên của sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật cũ.

Sự phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của sự vận động. Trong quá trình phát triển của mình trong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn [16, tr. 97] 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Một số khái niệm liên quan đến thông tin KH&CN Do mục tiêu chính của Luận văn là đề xuất chính sách phát triển thông tin KH&CN nên tác giả Luận văn không đi sâu khảo sát, trình bày về học thuật các khái niệm cơ bản có liên quan như thông tin, nguồn tin, tiềm lực thông tin, v.

mà tập trung đề cập các khái niệm quan trọng đã được chấp nhận một cách chính tắc, được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ở nước ta từ khi có Luật Khoa học và công nghệ năm 2013. Theo Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13, khái niệm “Khoa học” và khái niệm “Công nghệ” được hiểu như sau: “Khoa học” là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. “Công nghệ” là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm [17, tr. Theo Nghị định số 11/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/02/2014 về hoạt động thông tin KH&CN [6, tr.

1-2], một số khái niệm quan trọng có liên quan đến thông tin khoa học và công nghệ được xác định như sau: Thông tin khoa học và công nghệ: “Thông tin khoa học và công nghệ” là dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong các hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Như đã nêu ở trên, nội hàm của khái niệm này được hiểu trong văn cảnh của một tài liệu quy phạm pháp luật hiện hành (Nghị định số 11/2014/NĐ-CP), xong nội hàm đó cũng phù hợp với nội hàm khái niệm “thông tin khoa học và công nghệ” về mặt học thuật. Đó là : thông tin khoa học là thông tin logic, phản ánh một cách trung thực, khách quan các sự vật, hiện tượng, các quy luật trong tự nhiên, xã hội và tư duy và được sử dụng trong thực tiễn lịch sử cụ thể. Nội hàm của khái niệm thông tin nêu trên được cập nhật với sự bổ sung thông tin được tạo ra trong hoạt động sáng tạo, không chỉ đóng khung trong hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ như trước đây.

Thông tin khoa học và công nghệ ngày nay, ngoài việc phản ánh các kết quả của hoạt động nghiên cứu, phát triển, nó còn phải phản ánh kết 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quả và các vấn đề của đổi mới sáng tạo đang diễn ra sôi động trên thực tế, nhất là tại các doanh nghiệp, nơi sự liên kết, tích hợp giữa tri thức khoa học, thành tưu công nghệ và năng lực sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp tạo ra giá trị gia tăng và việc làm cho xã hội. Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ: “Hoạt động thông tin khoa học và công nghệ” là hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, bao gồm các hoạt động liên quan đến thu thập, xử lý, phân tích, lưu giữ, tìm kiếm, phổ biến, sử dụng, chia sẻ và chuyển giao thông tin khoa học và công nghệ, các hoạt động khác có liên quan. Cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ: “Cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ” là tập hợp thông tin về tiềm lực và kết quả hoạt động khoa học và công nghệ quốc gia, được xây dựng, duy trì và phát triển nhằm cung cấp dữ liệu và thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời về khoa học và công nghệ. Nguồn tin khoa học và công nghệ: “Nguồn tin KH&CN được hiểu là “các thông tin KH&CN được thể hiện dưới dạng sách, báo, tạp chí khoa học, kỷ yếu hội nghị, hội thảo khoa học, thuyết minh nhiệm vụ, báo cáo kết quả thực hiện, ứng dụng kết quả nhiệm vụ KH&CN, luận án khoa học, tài liệu thiết kế, kỹ thuật, cơ sở dữ liệu, trang thông tin điện tử, tài liệu thống kê KH&CN, tài liệu đa phương tiện và tài liệu trên các vật mang tin khác”.

Nguồn tin KH&CN là toàn bộ thông tin KH&CN được ghi lại, trình bày hoặc thể hiện dưới bất cứ dạng thức nào và trên bất cứ loại vật mang tin nào (ở dạng truyền thống và dạng điện tử) mà tổ chức, quốc gia có được. Theo xuất xứ, nguồn tin KH&CN có thể là nội sinh, trong nước (do tổ chức hoặc quốc gia đó tạo ra, lưu giữ, phổ biến), hoặc là ngoại sinh, nước ngoài (thu thập được qua các kênh khác nhau (mua, trao đổi, biếu tặng,.) hoặc truy cập được một cách ổn định, lâu dài (thông qua mua quyền truy cập hoặc có thể truy cập được do bên có thông tin tạo điều kiện truy cập lâu dài). Nguồn tin KH&CN rất phong phú, đa dạng, nếu phân loại theo vật mang tin, nguồn tin KH&CN chia thành hai loại: 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - “Nguồn tin KH&CN trên giấy”, còn gọi là nguồn tin KH&CN truyền thống, nguồn tin KH&CN dạng in, bao gồm các loại hình nguồn tin KH&CN được ghi trên các vật mang tin xuất hiện lâu đời như: tre, nứa, giấy, phim ảnh, băng từ.và khi truy cập và khai thác không cần sự trợ giúp của các thiết bị tin học và viễn thông.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ