Tổng quan nghiên cứu

Trong nền kinh tế tri thức hiện đại, thông tin và tri thức khoa học công nghệ (KH&CN) đã trở thành nguồn tài nguyên quốc gia quan trọng hàng đầu, vượt lên trên các nguồn lực vật chất truyền thống. Tại các quốc gia phát triển ở Tây Âu, khối lượng giá trị tạo ra từ khu vực kinh tế thông tin chiếm tới khoảng 50% giá trị sản xuất công nghiệp, với tốc độ tăng trưởng cao gấp 2 đến 3 lần các ngành kinh tế khác. Tại Việt Nam, hoạt động thông tin KH&CN được hình thành từ cuối những năm 1950 nhưng trong thời gian dài vẫn đối mặt với tình trạng thiếu hụt dữ liệu, phân tán nguồn lực và hạn chế về năng lực quản trị. Việc ban hành Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01/01/2014, cùng Nghị định số 11/2014/NĐ-CP đã đặt nền móng pháp lý mới cho sự phát triển của hệ thống này.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để hoàn thiện chính sách phát triển thông tin KH&CN nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập quốc tế. Luận văn tập trung nghiên cứu khung chính sách ở tầm vĩ mô và vi mô, lấy Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia (thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) làm khách thể khảo sát điển hình trong phạm vi giai đoạn 2014 - 2017. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá toàn diện thực trạng thực thi chính sách, xác định các điểm nghẽn về tài chính và hạ tầng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa việc thu thập, xử lý và chia sẻ dữ liệu. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao tốc độ tăng trưởng công bố quốc tế của Việt Nam (đạt bình quân 17,7%/năm giai đoạn 2011 - 2015), mở rộng quy mô mạng lưới liên hợp thư viện với gần 100 thành viên và tối ưu hóa ngân sách nhà nước hàng triệu USD chi trả bản quyền nguồn tin điện tử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên nền tảng lý thuyết chính sách công và lý thuyết hội nhập quốc tế về KH&CN. Khung lý thuyết chính sách của tác giả James E. Anderson xác định chính sách là quá trình hành động có mục tiêu nhằm giải quyết các vấn đề xã hội quan tâm. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng định nghĩa chính sách của Giáo sư Vũ Cao Đàm, coi chính sách là tập hợp các biện pháp được thể chế hóa dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật nhằm kích thích động cơ, định hướng hành vi của các nhóm xã hội hướng tới mục tiêu ưu tiên quốc gia. Về khía cạnh chuyển giao tri thức, luận văn tham chiếu lý thuyết chính sách công nghệ định hướng phổ biến của chuyên gia Lewis M. Branscomb tại Đại học Harvard, nhấn mạnh rằng thông tin KH&CN là bộ phận cốt lõi của chính sách công nghệ quốc gia nhằm lan tỏa tri thức mới đến toàn xã hội.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp quan điểm về hội nhập quốc tế trong KH&CN của Phó Giáo sư Mai Hà với 5 nguyên tắc trụ cột: tính tự nguyện, chấp thuận luật lệ chung, tính hợp chuẩn quốc tế, cạnh tranh bình đẳng và bảo đảm lợi ích bền vững. Bốn khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm:

  1. Thông tin KH&CN: Dữ liệu, dữ kiện, số liệu, tin tức được tạo ra trong hoạt động nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo (theo Nghị định 11/2014/NĐ-CP).
  2. Nguồn tin KH&CN: Tập hợp thông tin nội sinh và ngoại sinh thể hiện dưới dạng ấn phẩm in truyền thống hoặc dữ liệu số hóa trực tuyến.
  3. Hạ tầng thông tin, thống kê KH&CN: Kết cấu hạ tầng kỹ thuật, cổng thông tin, mạng nghiên cứu và mạng lưới cơ sở dữ liệu quốc gia (quy định tại Thông tư 10/2017/TT-BKHCN).
  4. Liên hợp thư viện: Cơ chế liên kết, chia sẻ nguồn lực và đàm phán mua quyền truy cập chung các cơ sở dữ liệu điện tử quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp các nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong mốc thời gian từ năm 2014 đến năm 2017:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật KH&CN 2013, Nghị định 11/2014/NĐ-CP, Thông tư 10/2017/TT-BKHCN), báo cáo thống kê của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia, Sách KH&CN Việt Nam 2014 và số liệu trích xuất từ cơ sở dữ liệu quốc tế ISI Web of Science thuộc Thomson Reuters.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực địa qua bảng hỏi với nội dung gồm 12 câu hỏi đóng và 3 câu hỏi mở. Cỡ mẫu khảo sát gồm 120 phiếu phát ra tới các đối tượng thụ hưởng và thực thi chính sách, thu về 100 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 83,3%). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng trên 4 nhóm đối tượng chính: cán bộ quản lý KH&CN, nhà nghiên cứu tại các viện chuyên ngành, giảng viên đại học và cán bộ thông tin - thư viện.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích định lượng số liệu truy cập và phương pháp phân tích hệ thống giúp đánh giá khách quan mối tương quan giữa chính sách đầu tư nguồn tin với hiệu quả công bố khoa học quốc tế, đồng thời làm rõ bức tranh toàn cảnh về thực trạng phân bổ ngân sách trong toàn bộ hệ thống cơ quan thông tin thư viện Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự chuyển dịch mạnh mẽ từ khai thác tài liệu truyền thống sang sử dụng nguồn tin điện tử trực tuyến. Thống kê tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia cho thấy số lượt bạn đọc sử dụng dịch vụ cung cấp tài liệu từ xa qua tài khoản cá nhân cao gấp 14 lần số lượt bạn đọc đến tra cứu trực tiếp tại thư viện. Trong giai đoạn 2013 - 2015, nhu cầu tải tài liệu điện tử tăng trưởng vượt bậc: số lượt sử dụng cơ sở dữ liệu Web of Science tăng 55,2%, số bài tải về từ cơ sở dữ liệu Springer tăng 20,3%, và lượt tải từ IOP tăng gấp 3,0 lần (300%). Do tần suất sử dụng tăng cao, giá thành trung bình cho một lượt tải bài viết từ IOP năm 2015 đã giảm mạnh tới 74,1% so với năm 2013.

Thứ hai, việc bổ sung nguồn tin quốc tế có tác động thúc đẩy trực tiếp năng suất công bố khoa học của Việt Nam. Giai đoạn 2011 - 2015, tổng số bài báo khoa học của Việt Nam được chỉ mục trong hệ thống Web of Science đạt trên 11.000 bài, tăng từ 1.580 bài (năm 2011) lên 2.704 bài (năm 2015), duy trì tốc độ tăng trưởng ấn tượng 17,7%/năm. Phân tích 9.457 công trình của các tác giả Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2012 với 43.702 trích dẫn cho thấy, có tới 61% tài liệu tham khảo được khai thác trực tiếp từ 4 cơ sở dữ liệu quốc tế do Nhà nước đầu tư mua quyền truy cập gồm ScienceDirect, SpringerLink, IEEE và ProQuest. Nhờ chính sách mua tập trung, chi phí bạn đọc tiếp cận tài liệu chỉ vào khoảng 1.000 đồng/trang, thấp hơn rất nhiều so với mức giá thương mại trực tuyến trung bình khoảng 94.000 đồng/trang.

Thứ ba, thực trạng tài chính tại các đơn vị thông tin thư viện cơ sở còn rất manh mún và mất cân đối nghiêm trọng. Khảo sát năm 2014 trên 67 đơn vị thông tin thư viện trực thuộc trường đại học và viện nghiên cứu chỉ ra rằng:

  • 35,8% số đơn vị hoàn toàn không được cấp kinh phí bổ sung tài liệu KH&CN hàng năm.
  • 64,2% số đơn vị được cấp kinh phí, nhưng trong số này có tới 22,4% nhận mức ngân sách dưới 100 triệu đồng/năm và 13% nhận dưới 50 triệu đồng/năm.
  • Chỉ có 10,4% số đơn vị có kinh phí đầu tư phát triển nguồn tin trên 500 triệu đồng/năm.

Thứ tư, mô hình Liên hợp thư viện Việt Nam về các nguồn tin điện tử khẳng định vai trò điều phối trọng yếu. Để mua quyền truy cập các cơ sở dữ liệu cốt lõi như ScienceDirect và Scopus cần tới khoảng 1,5 triệu USD/năm (tương đương hơn 30 tỷ đồng), vượt quá khả năng chi trả của từng trường đại học đơn lẻ. Mô hình liên hợp với gần 100 thành viên chính thức và quan sát viên đã giúp tối ưu hóa nguồn lực đóng góp từ các đơn vị lớn (Cục Thông tin đóng góp khoảng 1 tỷ đồng/năm, các đại học quốc gia đóng góp 80 - 100 triệu đồng/năm, các viện và trường quy mô trung bình đóng góp 20 - 40 triệu đồng/năm), giải quyết bài toán thiếu hụt tài liệu chuyên sâu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự phân tán và thiếu hụt thông tin giai đoạn trước bắt nguồn từ cơ chế quản lý chồng chéo, các viện nghiên cứu bị cắt giảm đầu mối thông tin khi chuyển đổi mô hình tự chủ và sự thiếu vắng khung điều phối quốc gia bắt buộc. So sánh với kinh nghiệm quốc tế, Đan Mạch đã xây dựng thành công cổng thư viện số tập trung toàn quốc; Hàn Quốc chuẩn hóa hệ sinh thái học liệu số trong các cơ sở đào tạo; Ghana khắc phục hạn chế ngân sách nhờ tối ưu hóa liên hợp thư viện; trong khi Trung Quốc và Ấn Độ tập trung nguồn lực nhà nước xây dựng các hệ thống chỉ mục khoa học nội sinh quy mô lớn.

Những phát hiện trên mang ý nghĩa sâu sắc: thông tin KH&CN cần được coi là tài sản công đặc thù, việc đầu tư mua quyền truy cập tập trung mang lại lợi ích kinh tế vượt trội so với mua sắm riêng lẻ. Để phục vụ việc theo dõi và ra quyết định, dữ liệu thực trạng có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ phân bổ ngân sách mua tin theo từng khối viện trường, kết hợp cùng bảng đối sánh đa biến giữa chi phí mua quyền truy cập cơ sở dữ liệu và mức độ gia tăng bài báo quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam qua các năm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện chính sách phát triển thông tin KH&CN trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể cần được triển khai:

  1. Hoàn thiện chính sách thu thập và chia sẻ nguồn tin nội sinh: Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia cần thực thi cơ chế bắt buộc 100% nhiệm vụ nghiên cứu có sử dụng ngân sách nhà nước phải đăng ký và giao nộp báo cáo kết quả toàn văn. Tiến hành số hóa toàn bộ luận án, luận văn và kỷ yếu hội thảo để tích hợp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN gồm 10 cơ sở dữ liệu thành phần theo Thông tư 10/2017/TT-BKHCN, hoàn thành giai đoạn đồng bộ dữ liệu trọng điểm trong giai đoạn 2018 - 2020.
  2. Nâng cấp và mở rộng quy mô Liên hợp thư viện Việt Nam: Ban điều hành Liên hợp thư viện chủ trì đàm phán cấp li-xăng quốc gia đối với các cơ sở dữ liệu học thuật quốc tế hàng đầu (ScienceDirect, Scopus, SpringerLink, IEEE), phấn đấu nâng tổng số thành viên tham gia lên 150 đơn vị trước năm 2020. Mục tiêu giúp các viện nghiên cứu và trường đại học thành viên tiết kiệm từ 30% đến 40% chi phí bản quyền so với mua sắm độc lập.
  3. Chuẩn hóa và phát triển hạ tầng mạng VinaREN: Cục Thông tin phối hợp cùng các đơn vị viễn thông quốc tế nâng cấp băng thông Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VinaREN), mở rộng kết nối với mạng Á - Âu (TEIN), mạng GLORIAD và APAN. Đảm bảo 100% các phòng thí nghiệm trọng điểm và các trường đại học đa ngành được kết nối đường truyền tốc độ cao phục vụ tính toán hiệu năng cao và nghiên cứu liên ngành trong giai đoạn 2018 - 2022.
  4. Phát triển hệ thống dịch vụ thông tin có giá trị gia tăng cao: Các trung tâm thông tin - thư viện chuyển đổi phương thức phục vụ từ cung cấp tài liệu thô sang xử lý phân tích dữ liệu chuyên sâu, đo lường trắc lượng khoa học (scientometrics), cung cấp thông tin sáng chế và phân tích xu hướng công nghệ phục vụ trực tiếp cho lãnh đạo, các nhà quản lý doanh nghiệp và các dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo giai đoạn 2018 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn cung cấp nhiều giá trị học thuật và giải pháp ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý KH&CN tại Bộ Khoa học và Công nghệ, các Bộ ngành và Sở KH&CN địa phương: Nghiên cứu cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng các văn bản hướng dẫn thực thi Luật KH&CN 2013, thiết kế cơ chế phân bổ ngân sách mua sắm tài nguyên thông tin công và xây dựng hạ tầng thống kê KH&CN đồng bộ.
  2. Lãnh đạo và cán bộ quản lý hệ thống thông tin - thư viện tại các trường đại học, viện nghiên cứu: Cung cấp phương pháp luận và kinh nghiệm vận hành mô hình liên hợp thư viện, kỹ năng đàm phán hợp đồng li-xăng quốc tế, cùng giải pháp chia sẻ tài nguyên số nội sinh nhằm tối ưu hóa chi phí vận hành thư viện số.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý KH&CN, Khoa học Thư viện - Thông tin và Quản lý công: Tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về khung lý thuyết chính sách thông tin, phương pháp điều tra trắc lượng khoa học và phân tích mối quan hệ giữa tài nguyên thông tin với năng suất nghiên cứu.
  4. Doanh nghiệp KH&CN và các tổ chức R&D: Tài liệu hướng dẫn cách tiếp cận hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN, tra cứu sáng chế, tiêu chuẩn đo lường chất lượng và thông tin cung - cầu công nghệ nhằm phục vụ đổi mới quy trình sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao thông tin KH&CN được xác định là nguồn lực chiến lược của quốc gia? Thông tin KH&CN cung cấp cơ sở dữ liệu tri thức giúp rút ngắn chu kỳ nghiên cứu, tránh lãng phí nguồn lực do trùng lặp đề tài và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Thực tế tại các nước phát triển, giá trị từ ngành thông tin đóng góp tới 50% sản lượng công nghiệp, khẳng định vai trò động lực cốt lõi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.

  2. Mô hình Liên hợp thư viện mang lại lợi ích tài chính cụ thể nào cho các viện trường? Chi phí mua bản quyền các cơ sở dữ liệu quốc tế như ScienceDirect và Scopus lên tới 1,5 triệu USD/năm, vượt xa khả năng chi trả của từng đơn vị. Mô hình liên hợp giúp các trường đóng góp kinh phí theo quy mô sử dụng, giảm giá thành tiếp cận mỗi trang tài liệu xuống chỉ còn khoảng 1.000 đồng so với mức thương mại 94.000 đồng/trang.

  3. Luật KH&CN 2013 và Nghị định 11/2014/NĐ-CP đã tạo bước ngoặt gì cho chính sách thông tin? Các văn bản pháp luật này đã chính thức thể chế hóa hạ tầng thông tin, thống kê KH&CN thành một bộ phận của kết cấu hạ tầng quốc gia. Đồng thời, quy định rõ nghĩa vụ giao nộp kết quả thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu và thiết lập khung pháp lý để xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia gồm 10 cơ sở dữ liệu thành phần.

  4. Nguồn tin điện tử quốc tế đóng góp như thế nào vào chất lượng công bố khoa học của Việt Nam? Số lượng công bố quốc tế của Việt Nam trên hệ thống Web of Science giai đoạn 2011 - 2015 tăng trưởng trung bình 17,7%/năm, đạt 2.704 bài năm 2015. Đáng chú ý, có tới 61% tài liệu trích dẫn trong 9.457 bài báo ISI của Việt Nam được khai thác từ 4 cơ sở dữ liệu điện tử lớn do Nhà nước đầu tư quyền truy cập.

  5. Đâu là rào cản lớn nhất trong phát triển nguồn tin tại các cơ quan thông tin thư viện hiện nay? Rào cản lớn nhất là sự thiếu hụt và mất cân đối về tài chính. Khảo sát chỉ ra 35,8% cơ sở thông tin không được cấp ngân sách mua tài liệu và chỉ 10,4% có kinh phí trên 500 triệu đồng/năm, dẫn tới tình trạng nguồn tin nghèo nàn, thiếu cập nhật và chưa đáp ứng nhu cầu nghiên cứu chuyên sâu.

Kết luận

  • Thông tin KH&CN là nguồn tài nguyên quốc gia đặc thù, giữ vai trò quyết định trong việc nâng cao dân trí, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo dựng nền tảng phát triển kinh tế tri thức.
  • Xu hướng sử dụng thông tin chuyển dịch mạnh sang môi trường số với số lượt khai thác trực tuyến cao gấp 14 lần trực tiếp, khẳng định tính đúng đắn của chính sách ưu tiên phát triển cơ sở dữ liệu điện tử.
  • Việc tiếp cận các cơ sở dữ liệu quốc tế hàng đầu (chiếm 61% nguồn trích dẫn ISI) là động lực trực tiếp giúp công bố khoa học quốc tế của Việt Nam tăng trưởng bình quân 17,7%/năm.
  • Mô hình Liên hợp thư viện điện tử là giải pháp tối ưu giúp giải quyết điểm nghẽn tài chính cho 64,2% đơn vị thông tin thư viện đang gặp khó khăn về ngân sách bổ sung.
  • Hệ thống chính sách cần tập trung chuẩn hóa 10 cơ sở dữ liệu thành phần quốc gia, mở rộng kết nối mạng nghiên cứu VinaREN và nâng cao chất lượng dịch vụ phân tích thông tin chuyên sâu.

Đóng góp quan trọng nhất của luận văn là đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về chính sách phát triển thông tin KH&CN tại Việt Nam sau khi Luật KH&CN 2013 có hiệu lực. Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2018 - 2020 cần ưu tiên hoàn thiện hạ tầng số và quy chế chia sẻ dữ liệu liên ngành; giai đoạn 2021 - 2030 tập trung mở rộng mạng lưới liên kết quốc tế và cung cấp dịch vụ thông tin giá trị gia tăng cao. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động tham gia tích hợp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về KH&CN, góp phần khai phóng nguồn tài nguyên tri thức phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước.