CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA ĐỊA PHƯƠNG 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm chính sách Theo James Anderson: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “chính sách” là “sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra”. Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Đinh Dũng Sỹ (2008) cho rằng chính sách có mối tương quan rất mật thiết với chính trị và phápluật, chính sách là cụ thể hóa đường lối chính trị của Nhà nước. Franc Ellis cho rằng "trên tầm vĩ mô, chính sách được xem như đường lối hành động màChính phủ lựa chọn đối với quản lý nhà nước về một lĩnh vực nào đó, có thể là kinh tế, xã hội và môi trường”.
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó. Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa – xã hội – môi trường.2 Khái niệm chính sách phát triển nông nghiệp Chính sách phát triển nông nghiệp là chính sách bảo vệ lợi ích kinh tế của nông dân thông qua các biện pháp như trợ giá, trợ cấp thu nhập trực tiếp và khuyến 5 khích nâng cao hiệu quả thông qua việc hỗ trợ họ trong quá trình cơ giới hóa, áp dụng công nghệ mới và hình thức tổ chức mới. Lê Đình Thắng: "Chính sách phát triển nông nghiệp được hiểu là tổng thể các biện pháp kinh tế hoặc phi kinh tế có liên quan đến nông nghiệp và các ngành có liên quan, nhằm tác động vào nông nghiệp theo những mục tiêu nhất định, trong một thời hạn nhất định" Chính sách phát triển nông nghiệp thể hiện hành động của Chính phủ nhằm thay đổi môi trường của sản xuất nông nghiệp, tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển. Các quan niệm về chính sách, chính sách phát triển nông nghiệp trên đây đứng trên các góc độ nghiên cứu, phương thức tiếp cận khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung cơ bản và cùng nhằm vào mục đích phát triển nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng từ sự can thiệp của Chính phủ.
Chính sách phát triển nông nghiệp có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực sản xuất, phân phối lưu thông và tiêu thụ sản phẩm. Các vấn đề có liên quan đến sản xuất gồm các tác động đến giá thị trường yếu tố đầu vào, thị trường tư liệu sản xuất, các tác động đến sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, các vấn đềcó liên quan đến tổ chức phối hợp các nguồn lực. Các vấn đề có liên quan đến lưu chuyền sản phẩm gồm thị trường sản phẩm của nông nghiệp, giá bán sản phẩm, thuế tiêu thụ sản phẩm, chế biến, bảo quản, vận chuyển, bán sản phẩm. Các vấn đề có liên quan đến tiêu dùng sản phẩm gồm chế độ phân phối sản phẩm, giá mua sản phẩm, thuế xuất nhập khẩu sản phẩm.2 Nguyên lý cơ bản về chính sách phát triển nông nghiệp của địa phương 1.1 Yêu cầu của chính sách phát triển nông nghiệp của địa phương Chính sách nông nghiệp của các quốc gia, khu vực, vùng miền đều mang những nét đặc thù với màu sắc riêng.
Chính sách nông nghiệp thường bao hàm cả chính sách kinh tế và chính sách phi kinh tế. Ngày nay nông nghiệp không chỉ lànơi sản xuất ra của cải vật chất mà còn là địa bàn có số lượng dân cư rất đông. Nông nghiệp, nông thôn là nơi lƣu giữ các giá trị văn hóa tinh thần của xã hội, là nơi thực hiện các quá trình bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên quốc gia. Nông nghiệp không chỉ sản xuất ra của cải cho xã hội mà còn là môi trường tự nhiên, môitrường xã hội cho phát triển bền vững.
Vì vậy, chính sách phát triển của các quốc gia đều mang những đặc trƣng riêng. Các chính sách này không chỉ nhằm phát triển kinh tế mà còn phải góp phần giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan đến văn hóa, xã hội, truyền thống. Đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững chính là đảm bảo sự cân bằng của xã hội. Trên thực tế nông dân luôn là lực lượng bị thiệt 6 thòi nhất trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Do đất đai bị thu hẹp, do năng suất lao động thấp, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. cho nên thu nhập của ngƣời nông dân thƣờng thấp trong xã hội. Các chính sách phát triển nông nghiệp ngoài mục đích kinh tế còn phải hƣớng vào xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, lưu giữ và bảo vệ các giá trị văn hóa tinh thần.2 Mục tiêu của chính sách phát triển nông nghiệp của địa phương Trong giai đoạn hiện nay, để đảm bảo nền kinh tế - xã hội ổn định và phát triển, chính sách phát triển nông nghiệp của địa phương cần đạt được những mục tiêu tổng quát sau: Thứ nhất, chính sách phát triển nông nghiệp nhằm bảo đảm cho nông nghiệp, nông thôn phát triển toàn diện. Sự phát triển toàn diện của nông nghiệp được thể hiện đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp, vừa phát huy thế mạnh của việc sản xuất sản phẩm vừa tận dụng mọi khả năng để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của xã hội.
Chính sách phát triển nông nghiệp còn nhằm kết hợp phát triển các ngành kinh tế trong nông thôn như công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp, và thương mại dịch vụ. Thứ hai, Chính sách phát triển nông nghiệp nhằm mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững, được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. Trong lĩnh vực kinh tế một mặt vừa bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, vừa phải phát triển toàn diện các ngành nông nghiệp phải cung cấp đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng ở trong nước và phát huy lợi thế so sánh của các ngành hướng mạnh ra xuất khẩu). Về mặt xã hội, chính sách nông nghiệp một mặt phải tạo ra môi trường sản xuất - kinh doanh thuận lợi, mặt khác phải hướng đến xoá đói, giảm nghèo trong nông thôn, từng bước thực hiện sự công bằng xã hội.
Chính sách nông nghiệp còn hướng đến việc bảo vệ môi trường sinh thái. Thứ ba, Chính sách phát triển nông nghiệp phải bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định, giữ vững độc lập chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị và quốc phòng.3 Vai trò của chính sách phát triển nông nghiệp - Chính sách phát triển nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thứ nhất, định hướng chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nói chung và cơ cấu ngành nông nghiệp nói riêng trên địa bàn huyện. Thứ hai, định hướng điều tiết sự mất cân đối trong nông nghiệp.
Trong nông nghiệp,chính sách nông nghiệp định hướng cân bằng các lĩnh vực: sản xuất - tiêu 7 dùng, đầu vào - đầu ra, tích luỹ - đầu tư, xuất khẩu - nhập khẩu, thu - chi ngân sách… - Chính sách phát triển nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc phát triển cân đối các vùng lãnh thổ: gò đồi miền núi, đồng bằng và đầm phá ven biển. - Chính sách nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc khai thác có hiệu quả các tiềm năng trong nông nghiệp, đó là đất đai và lao động và đây cũng là hai nguồn lực quan trọng của đất nước nói chung và nông nghiệp nói riêng. - Chính sách nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững. - Chính sách nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc tác động đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
Trong thời gian dài nước ta áp dụng cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã phát sinh ra nhiều tiêu cực, ảnh hưởng không tốt đến phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng, đặc biệt là hiện tượng quan liêu bao cấp. Trong giai đoạn hiện nay,chính sách nông nghiệp phải có vai trò to lớn trong việc tác động đổi mới cơ chế này, từng bước xoá bỏ hiện tượng quan liêu bao cấp trong nền kinh tế.4 Nội dung của chính sách phát triển nông nghiệp a) Chính sách thu hút đầu tư phát triển nông nghiệp Có hai nhóm chính sách có tác động thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp huyện. Một là, nhóm chính sách ưu đãi đầu tư của chính quyền Trung ương đối với doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Các chính sách này được áp dụng chung đối với tất cả các địa phương trong cả nước.
Chính quyền huyện tổ chức thực hiện các chính sách này trên địa bàn huyện, nhằm thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp huyện.Chính sách ưu đãi của chính quyền trung ương gồm các chính sách thuế và khuyến khích về thuế đối với doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, chính sách ưu đãi tín dụng, ưu đãi về đất đai, hỗ trợ xúc tiến đầu tư, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, chính sách bảo hiểm nông nghiệp (hỗ trợ rủi ro trong sản xuất nông nghiệp,. Hai là, nhóm các chính sách ưu đãi riêng của chính quyền huyện , được áp dụng riêng cho các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp của địa phương.Trên cơ sở các quy định chung của pháp luật, chính sách của chính quyền Trung ương, điều kiện đặc thù của địa phương và chính sách của chính quyền huyện, chính quyền huyện có thể xây dựng một số chính sách của địa phương để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp vào nông nghiệp.