Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÀ Ở XÃ HỘI 1. Lý luận chung về chính sách công 1. Khái niệm chính sách công Ngày nay, thuật ngữ “chính sách công” (trong nhiều trường hợp, được gọi là chính sách) được dùng rất phổ biến, đặc biệt là ở các nước phát triển. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về thuật ngữ “chính sách công”.
Có rất nhiều qua niệm, định nghĩa khác nhau về chính sách công. Jam Anderson cho rằng: “Chính sách công là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại” [33; tr. Còn nhà kinh tế học, ông Frak Ellis cho rằng không có một định nghĩa duy nhất về thuật ngữ chính sách công với tất cả các tác giả. Theo ông, “chính sách công là một thuật ngữ chung vì nó ngụ ý sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế”, và “chính sách công được xác định như là đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ lựa chọn đối với một lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các mục tiêu mà Chính phủ đó tìm kiếm và sự lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó”[20; tr.
Theo Từ điển kinh tế: “Chính sách là biện pháp mà nhà nước mới áp dụng một giai đoạn, một thời kỳ lịch sử, nhằm đạt được những yêu cầu và những mục tiêu kinh tế, chính trị nhất định. Chính sách có thể mang tính chất sách lược lâu dài, có thể mang tính chất sách lược ngắn hạn. Chính sách kinh tế được xây dựng trên cơ sở, những điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước và những xu hướng phát triển của xã hội”[49; tr. 10 Như vậy, chính sách công là một khái niệm vừa mang tính khoa học cơ bản, vừa mang tính ứng dụng, nhất là tính chỉ đạo thực tiễn của những chủ thể quản lý nhà nước nhất định.
Trên thực tế sẽ luôn tồn tại những cách định nghĩa chính sách khác nhau do cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau. Chính sách công thể hiện những vấn đề cơ bản sau đây: Thứ nhất, trước hết, chính sách công là sản phẩm của các cơ quan nhà nước, là sự thể hiện quyền lực của giai cấp thống trị trong sự thống trị xã hội, giai cấp thống trị được tổ chức thành nhà nước, đồng thời là kết quả (đầu ra) trong hoạt động của cả hệ thống chính trị, thể hiện tập trung nhất ở nhà nước (hay nói chung là của các cơ quan công quyền). Chính vì vậy, theo Frank Ellis, Chính sách (Politicy) là các chủ trương, biện pháp, là sách lược, kế hoạch cụ thể của chính phủ (cơ quan công quyền, của cơ quan nhà nước) đối với các lĩnh vực đời sống xã hội. Như vậy, có thể nói tất cả các quyết định đưa ra từ cơ quan công quyền đều được coi là chính sách công.
Nói cách khác, chính sách công là đường lối hành động mà chính phủ lựa chọn để thực hiện các mục tiêu nhất định của nhà nước đối với những vấn đề xã hội nhất định. Chính sách công là sản phẩm của nhà nước nên tất yếu là nó mang thể chế, tính hợp pháp và tính cưỡng chế. Đó là một hệ thống các quyết định và những tác động có ý thức (tự giác) của nhà nước đến đời sống xã hội, nhằm đạt được các mục tiêu do nhà nước đã đặt ra trong quá trình thực thi quyền lực. Thứ hai, chính sách công là thể hiện ý chí nhà nước trong giải quyết các quan hệ xã hội được thể hiện thông qua tất cả những tác động, các chủ trương của cơ quan công quyền.
Anlerson coi chính sách công là những hoạt động mà chính quyền chọn làm hoặc không làm, cái gì cấm làm hoặc cho phép làm đối với mỗi tổ chức kinh tế - xã hội và công dân. Thông qua chính sách công, nhà nước thực hiện các lợi ích của giai cấp cầm quyền cũng như những lợi ích nhất định của cộng đồng xã hội. Và như vậy, chính sách công là sự thể hiện uy lực, quyền lực công. 11 Thứ ba, chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực của nhà nước thông qua việc phân bổ các giá trị xã hội, nhằm thực hiện lợi ích nào đó cho giai cấp cầm quyền, cộng đồng xã hội, hoặc mang lại hiệu quả trong quản lý xã hội của một quốc gia.
Trong xã hội dân chủ, quyền lực nhà nước là của dân, do dân ủy quyền, thông qua phân bổ các giá trị xã hội cho phép chính phủ đảm nhiệm vai trò công bộc đối với nhân dân, nhà nước vì dân, nhà nước tạo thời cơ điều kiện để phát huy tốt nhất các nguồn lực trong dân, gìn giữ hạnh phúc, an toàn cho mọi người dân. Với ý nghĩa đó, chính sách công là cái thể hiện khả năng thực thi quyền lực nhà nước, là công cụ để thực hiện ý chí nhà nước (hay ý chí của nhân dân). Thứ tư, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan nên đời sống xã hội luôn có những biến đổi. Trong mỗi thời kỳ khác nhau, điều kiện khác nhau, với những quan hệ lợi ích khác nhau, đặt ra những yêu cầu khách quan trong sự phát triển khác nhau.
Do đó, trong các chủ trương chính sách nhà nước, bên cạnh những yếu tố, những mặt ổn định, bất biến, cũng xuất hiện những mặt, những yếu tố khả biến, đòi hỏi nhà nước phải ứng phó hiệu quả, phải có những chủ trương, biện pháp, sách lược, kế hoạch thích hợp ở từng thời kỳ. Do đó, chính sách công còn là nghệ thuật để can thiệp cần thiết vào đời sống xã hội của chính phủ. Thứ năm, coi chính sách công là các quyết định, các chương trình hành động của nhà nước và cũng có thể coi chính sách công là một chuỗi các hoạt động có tính hệ thống của cơ quan nhà nước, được sắp xếp theo một trật tự nhất định. Hệ thống này có mục tiêu dài hạn hoặc ngắn hạn và được tính toán, cân nhắc cẩn thận.
Đó là một chuỗi những hoạt động như: Xác định chương trình chính sách; xây dựng và lựa chọn chính sách; tổ chức thực hiện chính sách; tổng kết, bổ sung, hoàn thiện chính sách. Thứ sáu, trong các xã hội hiện đại, chính sách công có quan hệ mật thiết với quyết sách của đảng cầm quyền. 12 Quyết sách của đảng cầm quyền là chủ trương của tổ chức chính trị nắm quyền đại diện ý chí chung của xã hội, chi phối tổ chức và hoạt động của nhà nước. Do đó chính sách công có quan hệ mật thiết với các chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền.
Trong mối quan hệ đó, chủ trương, đường lối của đảng cầm quyền là sản phẩm của tổ chức chính trị (đảng cầm quyền) chi phối nhà nước về mặt chính trị, nó mang tính nguyên tắc chung, có tính định hướng của đảng cầm quyền đối với nhà nước. Còn chính sách nhà nước là sản phẩm của cơ quan công quyền, của nhà nước, đồng thời là kết quả của quá trình thể chế hóa các chủ trương của đảng cầm quyền thành các quyết định mang tính nhà nước, buộc toàn xã hội thực hiện. Chính sách công cũng liên quan mật thiết đối với ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được thể hiện thông qua những kiến nghị, đề xuất của các đoàn thể đại diện cho lợi ích của các tầng lớp nhân Trên ý nghĩa đó, đường lối của đảng chính trị nói chung, của đảng cầm quyền nói riêng và đề xuất của các tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho lợi ích của các giai cấp, tầng lớp nhân dân có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành chính sách công. Mặc dù nhà nước là cơ quan quyền lực có tính độc lập cao, nhưng sự phân biệt chính sách công với quyết sách của đảng cầm quyền chỉ là tương đối.
Trên thực tế có thể có những quyết định của đảng cầm quyền trực tiếp được coi là ý chí nhà nước, là quyết định của nhà nước, là chương trình hành động của nhà nước trong trường hợp đảng cầm quyền can thiệp sâu vào các công việc nhà nước, đảng cầm quyền làm thay nhà nước, đảng cầm quyền và nhà nước là một, không có sự phân biệt. Tóm lại, chính sách công là chương trình hành động của nhà nước, là ý chí nhà nước mang tính quy phạm pháp luật, nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể mà xã hội quan tâm trong những thời hạn nhất định, là chuỗi các quyết định và hành vi nhất định của các cơ quan công quyền, nhằm quy định mục đích và cách thức hành động của những đối tượng liên quan, nhằm thực thi 13 quyền lực nhà nước. Vai trò của chính sách công Chính sách công liên quan mật thiết đến giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước nên chính sách công có vai trò rất quan trọng: - Thông qua chính sách công để thực hiện ý chí nhà nước, ý chí chung của xã hội thông qua việc thực hiện phân bổ các giá trị có lợi cho giai cấp cầm quyền và đảm bảo nhất định công bằng xã hội, qua đó đảm bảo tính chính đáng, củng cố địa vị của giai cấp cầm quyền. - Thông qua một hệ thống các chính sách đúng, đáp ứng các yêu cầu khách quan của sự phát triển, chính sách công tạo sự ổn định chính trị - xã hội để phát triển.
Chính sách đúng hay không đúng liên quan mật thiết tới phương thức cai trị (hòa bình, mềm dẻo hay bạo lực cứng rắn). Tính ổn định có quan hệ mật thiết với phát triển. Do đó, muốn có ổn định chính trị - xã hội, nhà nước phải có những chính sách đúng, đáp ứng các yêu cầu khách quan trong phát triển kinh tế - xã hội ở từng thời kỳ, ở mỗi giai đoạn phát triển, chính sách phải hợp lòng dân, phải hướng đến lợi ích của đại đa số nhân dân, tất nhiên là không tuyệt đối. - Do chính sách liên quan đến phân bổ hợp lý các nguồn lực, giá trị xã hội nên việc ban hành và thực hiện chính sách có tác động đến khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội (trong khi trên thực tế, không có một quốc gia nào có dồi dào các nguồn lực vật chất và tinh thần).