MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Toàn cầu hóa và chia sẻ thông tin đáng là xu thế tất yếu hiện nay của thế giới. Sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin (CNTT) đã làm cho nền kinh tế thế giới có nhiều thay đổi, chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Trong thời kì mới thông tin đóng vai trò ngày càng quan trọng, là nhân tốt quyết định sự phát triển của xã hội.
Sự thay đổi đó cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động Thông tin Thư viện (TT-TV), thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của ngành TT-TV và đem lại nhiều đóng góp thiết thực, nâng cao vai trò của ngành TT-TV trong xã hội. Trong những năm gần đây, ngành TT-TV ngày càng phát triển và nhận được sự quan tâm của rất nhiều quốc gia trên thế giới. Hoạt động TT-TV không chỉ phát triển ở phạm vi riễng lẻ của từng quốc gia mà có sự liên kết, trao đổi và chia sẻ trên toàn thế giới. Nhiều cơ quan TT-TV, nhiều tổ chức nghề nghiệp đã ra đời ở nhiều quốc gia và có sự liên kết của của khu vực thế giới kéo theo đó là minh chứng rõ nét cho sự đi lên của hoạt động TT-TV.
Để có được kết quả như vậy thì yếu tố con người luôn đóng vai trò quyết định. Ở nước ta, ngành TT-TV cũng theo xu hướng chung của thế giới, ngày càng phát triển, chuẩn hóa và hội nhập. Từ trước đến nay, hoạt động TT-TV luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước về nhiều mặt điều này được thể hiện qua các văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành. Trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc đã nêu rõ quan điểm, chủ trương, chính sách chiến lược về xây dựng và phát triển văn hóa nói chung, hoạt động TT- TV nói riêng trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Những văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là cơ sở pháp lý, tiền đề để các cơ quan TT-TV hoạt động và phát triển. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thư viện công công ở nước ta đang ngày càng phát triển và chứng tỏ được vai trò của mình trong xã hội, và đóng góp một phần không nhỏ trong việc nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, giáo dục và đen lại nhiều lợi ích thiết thực nâng cao đời sống cho con người. Có được những thành tựu đó, bên cạnh những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, ủy ban nhân nhân các cấp còn phải kể đến sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ thư viện. Chính họ là những chiếc “cầu nối” đưa người dùng tin tiếp cận nguồn thông tin, tri thức phong phú có trong vốn tài liệu giúp người dung tin tìm kiếm được thông tin hữu ích góp phần nâng cao hiểu quả công việc và mục đích của mình.
Cán bộ thư viện ngày nay đã không còn là “ người trông giữ kho sách” mà là những chuyên gia thông tin, là động lực quan trọng, trực tiết quyết định sự phát triển, chất lượng, hiệu quả của mỗi cơ quan thông tin thư viện. Như Kupxcaia đã từng nói: “cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện”. Thật vậy, không chỉ là là một trong các thành tố quan trọng tạo thành thư viện cán bộ thư viện còn có vai trò là người vận hành hệ thống, sự dụng nguồn lực thông tin, tổ chức các dịch vụ phụ vụ nhu cầu tin cho người dùng tin. Cán bộ thư viện luôn đóng vai trò quyết định đến chất lượng hoạt động của thư viện trong bất cứ hoàn cảnh nào ngay cả khi CNTT cực kì phát triển.
Cùng với sự phát triển của xã hội và ngành TT-TV, yêu cầu cũng như vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyên lợi và nghĩa vụ đối với cán bộ thư viện ngày nay cũng có nhiều thay đổi. Đòi hỏi người cán bộ thư viện phải có sự nhận thức, kỹ năng cao hơn, chuyên nghiệp hơn để đáp ứng nhiệm vụ của mình trong thời đại mới. Họ phải làm tốt nghĩa vụ của mình sao cho tương xứng với những quyền lợi mà họ được hưởng. Bởi cán bộ TT-TV chính là “linh hồn” là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng, hiểu quả của việc đổi mới và thích ứng với tình hình kinh tế mới và sự biến chuyển của xã hội.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quan tâm đến việc phát triển công tác Thông tin Thư viện song thực tế vai trò của cán bộ thư viện 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chưa được đánh giá đúng mức, chế độ đãi ngộ của người cán bộ thư viện (đặc biệt là cán bộ thư viện trong hệ thống thư viện công cộng) vẫn còn rất nhiều vấn đề cần quan tâm. Điều này không chỉ ảnh hưởng trước hết đến đời sống của đội ngũ cán bộ, những người làm công tác thư viện mà còn trực tiếp quyết định đến hiệu quả, chất lượng của các cơ quan thông tin. Ảnh hưởng trực tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu tin, nâng cao hiệu quả lao động cũng như đời sống của người dùng tin. Chính vì thế việc đảm bảo chế độ, quyền lợi và vị thế cho cán bộ thư viện sẽ góp phần làm cho hoạt động thư viện được thực hiện một cách chất lượng và có hiểu quả.
Việc nghiên cứu chính sách đối với cán bộ thư viện và việc thực thi chính sách để có những đánh giá khách quan, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp phù hợp với tình hình thực tế góp phần hoàn thiện việc xây dựng chính sách đảm bảo sự phù hợp giữa quyền lợi và nghĩa vụ của người cán bộ thư viện trong thời đại mới là rất cần thiết. Tình hình nghiên cứu của đề tài Với nội dung “Chính sách đối với nguồn nhân lực Thông tin - Thư viện ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đất nước”, đã thấy có nhiều có nhiều công trình nghiên cứu cấp Bộ, các luận văn thạc sĩ, các bài báo công bố trên các tập chí chuyên ngành có liên quan liên quan đến vấn đề này. Trong đó trước hết phải kể đến chùm công trình nghiên cứu của TS. Vũ Dương Thúy Ngà như: Công trình cấp Bộ “Hoàn thiện chính sách cơ bản để phát triển sự nghiệp thư viện Việt Nam” năm 2013; đề tài nghiên cứu cấp Trường “Nghiên cứu công tác đào tào cán bộ thư viện ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp” công bố năm 1998 tại trường Đại học Văn Hóa.
Bái báo “Một số vấn đề đặt ra trong chính sách đối với người làm công tác thư viện ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Vũ Dương Thúy Ngà, TS.Phạm Văn Rính đăng trên tạp chí Thư viện số 4/2013. Tiếp đến là chùm đề tài của PGS.TS Trần Thị Quý như: Công trình cấp bộ năm 2009 “Nguồn nhân lực TT-TV các trường đại học trên địa bàn Hà 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nội, thực trạng và giải pháp. Bài “Đào tạo cán bộ TT-TV ở Việt Nam - nhu cầu cấp bách trong thời kì CNH-HĐH đất nước” công bố tại Hội thảo Khoa học quốc tế do viện Gorthe tổ chức ở Việt Nam năm 2001. Bài “Đào tạo nguồn nhân lực nghành TT-TV Việt Nam - 50 năm nhìn lại” trên tập chí Thư viện Việt Nam số 3/2006.
Tiếp theo là đề tài cấp Bộ: “Mô hình tổ chức và hoạt động của thư viện tỉnh, huyện và cơ sở ở Việt Nam”. Tiếp đến là đề tài cấp Bộ “Tiêu chí nguồn nhân lực TT-TV nguồn nhân lực thư viện của PGS.TS Trần Thị Minh Nguyệt. Báo cáo khoa học năm 2011 của TS. Chu Ngọc Lâm với đề tài “Đào tạo nguồn nhân lực TT-TV chất lượng cao trong thời đại kinh tế tri thức”.
Bài báo “Đào tạo nguồn nhân lực TV-TT trong bối cảnh xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức” đăng trên tạp chí Nghiên cứu văn hóa số 6 năm 2010. Ngoài ra còn kể đến một số công trình khoa học ở trường ĐH KHXH&NV như luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Hồng Loan với đề tài “Nguồn nhân lực TT-TV của một số cơ sở đào tạo đại học thuộc Bộ Công An trên khu vực Hà Nội” bảo vệ năm 2013; khóa luận bảo vệ 2009: “Quản lý phát triển nguồn nhân lực TT-TV của trung tâm khoa học tại Học viện Chính trị hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Thị Thanh Huyền. Ở trường Đại học Văn Hóa Hà Nội có luận văn “ Nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin tại Viện Triết học trong giai đoạn đổi mới đất nước” bảo vệ năm 2007 của tác giả Hồ Thị Cần; luận văn “Nguồn nhân lực trong hệ thống thư viện công cộng tại địa bàn Hà Nội” bảo vệ năm 2011 của tác giả Phạm Thị Bích Ngọc. Ngoài ra còn có rất nhiều đề tài khác.
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu, các bài viết, báo cáo khoa học nêu trên chủ yếu liên quan đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực, chính sách phát triển sự nghiệp thư viện Việt Nam nói chung. Còn các vấn đề về về chế độ, chính sách đối với cán bộ thư viện, đặc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biệt là cán bộ thư viện công cộng lại rất ít được đề cập đến. Như vậy, có thể khẳng định đề tài ““Chính sách đối với nguồn nhân lực Thông tin - Thư viện ở Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đất nước” là hoàn toàn mới và chưa có đề tài nào nghiên cứu được triển khai. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu: 3.2 Đề tài tập trung nghiên cứu về chính sách đối với cán bộ thư viện và việc thực thi chính sách trong hệ thống TVCC mà đại diện là hệ thống TVCC trên địa bàn Thành phố Hà Nội.3 Phạm vi nghiên cứu – Với phạm vi của một Luận văn, đề tài đi sâu nghiên cứu, khảo sát tại hệ thống TVCC Hà Nội, bởi Hà Nội là nơi mà hệ thống TVCC có đầy đầy đủ các mạng lưới từ thư viện cấp Thành phố, cấp quận huyện đến thư viện xã phường và tủ sách cơ sở đồng thời là nới có hệ thống TVCC phát triển nhất cả nước về cả chất và lượng.
Việc chọn hệ thống TVCC Hà Nội theo phương pháp chọn mẫu là có thể đại diện và phản ánh được các vấn đề về chính sách đối với nguồn nhân lực cho hệ thống thư viện công cộng của nước ta. Không gian: Các thư viện công cộng ở Hà Nội: Thư viện Hà Nội, 29/30 thư viện quận/ huyện và 177 thư viện xã phường, 978 thư viện,tủ sách cơ sở tại các cụm dân cư, thôn làng.