Tổng quan nghiên cứu

Trải qua quá trình đổi mới đất nước, mạng lưới thư viện công cộng Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với hệ thống gồm 63 thư viện cấp tỉnh, 626 thư viện cấp huyện, 4.363 thư viện cấp xã và 12.837 phòng đọc sách cơ sở, thu hút tổng cộng 19.691 cán bộ tham gia công tác. Mặc dù hạ tầng thông tin ngày càng mở rộng, mức độ thụ hưởng văn hóa đọc của người dân vẫn ở mức khiêm tốn với mức bình quân chỉ khoảng 2,8 cuốn sách và 7,07 tờ báo mỗi năm trên một đầu người. Vấn đề nghiên cứu then chốt được đặt ra là sự phát triển của công nghệ thông tin và nền kinh tế tri thức đòi hỏi người làm công tác thư viện phải chuyển đổi từ vai trò người giữ sách truyền thống sang chuyên gia thông tin, nhưng các chính sách đãi ngộ, tiền lương và điều kiện làm việc thực tế lại chưa theo kịp yêu cầu phát triển.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, khảo sát toàn diện việc triển khai thực thi chính sách đối với người làm công tác thư viện trong hệ thống thư viện công cộng tại Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn 2000 - 2014. Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá mức độ phù hợp của các quy định hiện hành và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách nhân lực thư viện.

Phạm vi nghiên cứu tập trung tại Thư viện Hà Nội, 29 trên 30 thư viện quận, huyện, thị xã cùng mạng lưới 177 thư viện xã, phường và 978 tủ sách cơ sở trên địa bàn Hà Nội trong khung thời gian 15 năm từ năm 2000 đến 2014. Ý nghĩa nghiên cứu mang tính cấp thiết, cung cấp cơ sở khoa học để cải thiện chế độ đãi ngộ cho hơn 80 cán bộ tại Thư viện Hà Nội và 52 cán bộ thư viện cấp huyện, tạo động lực nâng cao năng suất phục vụ nguồn vốn tài liệu hơn 48 vạn bản sách đến cộng đồng bạn đọc Thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản trị nguồn nhân lực trong khu vực công và lý thuyết thể chế chính sách văn hóa xã hội dựa trên nền tảng chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Nghiên cứu khẳng định quan điểm nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm quyết định chất lượng hoạt động của thiết chế thông tin, kế thừa tư tưởng của Nadezhda Krupskaya xem cán bộ thư viện là linh hồn của thư viện.

Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ tương tác giữa năm nhóm chính sách trụ cột tác động trực tiếp đến hiệu quả lao động của cán bộ thư viện: chính sách tiền lương, chính sách phụ cấp độc hại nguy hiểm, chính sách đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ, chính sách đảm bảo điều kiện làm việc và chính sách thi đua khen thưởng.

Các khái niệm cơ bản được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm:

  • Chính sách nguồn nhân lực thông tin - thư viện: Tổng thể các chủ trương, biện pháp và quy phạm pháp luật của Nhà nước nhằm thu hút, sử dụng, đãi ngộ và phát triển đội ngũ người lao động trong ngành.
  • Nguồn nhân lực thư viện: Đội ngũ những người trong độ tuổi lao động có trình độ, năng lực chuyên môn đang trực tiếp quản lý, vận hành và nghiên cứu khoa học trong hệ thống thông tin - thư viện.
  • Hệ thống thư viện công cộng: Mạng lưới các thiết chế văn hóa phục vụ cộng đồng được tổ chức phân cấp từ cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện đến cấp xã, phường và cụm dân cư cơ sở theo quy định của Pháp lệnh Thư viện.

Khung phân tích xem xét trực tiếp hệ thống văn bản pháp lý chuyên ngành như Nghị định số 204/2004/NĐ-CP quy định ngạch lương viên chức từ bậc A1 đến A3 gồm 8 bậc, Thông tư số 25/2006/TT-BVHTT quy định phụ cấp độc hại mức 2 với hệ số 0,2 kèm mức bồi dưỡng 4.000 đồng một ngày, Thông tư số 67/2006/TT-BVHTT về phụ cấp chức vụ từ 0,20 đến 1,30 và Quyết định số 428/TCCP-VC về tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức ngành văn hóa thông tin.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng từ các văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch, báo cáo ngành của Vụ Thư viện năm 2014, báo cáo tổng kết của Thư viện Hà Nội và dữ liệu điều tra xã hội học sơ cấp.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu điển hình trên toàn địa bàn Hà Nội. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 81 cán bộ tại Thư viện Hà Nội (gồm 45 viên chức biên chế và 36 lao động hợp đồng), 52 cán bộ phụ trách tại 29 thư viện quận, huyện và đại diện phụ trách từ 177 thư viện xã, phường. Lý do lựa chọn địa bàn Hà Nội làm mẫu đại diện vì đây là trung tâm văn hóa có mạng lưới thư viện công cộng hoàn chỉnh và phát triển nhất cả nước về cả quy mô lẫn tính chất phân cấp quản lý.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp phân tích thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và tổng hợp tài liệu chuyên sâu. Việc lựa chọn phương pháp này cho phép lượng hóa chính xác mức độ hài lòng của người lao động đối với từng chính sách cụ thể, chỉ rõ khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tế áp dụng trong suốt tiến trình đổi mới từ năm 2000 đến 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu trình độ chuyên môn của nhân lực có sự chênh lệch sâu sắc giữa các cấp quản lý. Tại Thư viện Hà Nội, đội ngũ cán bộ có trình độ đại học chiếm 88,8%, trình độ sau đại học đạt 8,6% với 7 thạc sĩ, nhưng hoàn toàn chưa có trình độ tiến sĩ (0%). Ngược lại, tại 29 thư viện cấp quận, huyện với 52 cán bộ, tỷ lệ có bằng đại học chỉ đạt khoảng 30% và chỉ có 42% cán bộ được đào tạo đúng chuyên ngành thông tin - thư viện, trong khi 20 cán bộ chuyển từ các ngành khác sang. Ở cấp xã phường và cơ sở, 87,6% nhân lực (tương đương 17.245 người trên toàn quốc) là cán bộ hưu trí, cựu chiến binh làm việc kiêm nhiệm, không có biên chế và không được hưởng lương cố định.

Thứ hai, chính sách tiền lương và phụ cấp độc hại tồn tại nhiều bất cập nghiêm trọng. Hơn 70% cán bộ được khảo sát cho rằng mức lương viên chức ngạch A1 đến A3 chưa tương xứng với cường độ lao động trí tuệ. Đặc biệt, chế độ phụ cấp độc hại mức 2 với hệ số 0,2 và mức bồi dưỡng bằng hiện vật 4.000 đồng một ngày theo Thông tư số 25/2006/TT-BVHTT bị 85% cán bộ kho và xử lý kỹ thuật đánh giá là quá thấp, không đủ bù đắp nguy cơ suy giảm sức khỏe khi thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với nấm mốc, bụi giấy và hóa chất bảo quản từ hơn 48 vạn tài liệu.

Thứ ba, tình trạng kiêm nhiệm và thiếu hụt ngân sách làm suy giảm hiệu quả hoạt động ở tuyến cơ sở. Trong 30 quận, huyện có tới 14 đơn vị chỉ bố trí duy nhất 1 cán bộ phụ trách thư viện kiêm nhiệm thêm nhiều công việc sự nghiệp của Trung tâm Văn hóa. Năm 2013, có 1 thư viện huyện hoàn toàn không được cấp kinh phí bổ sung tài liệu mới, và chỉ có 2 trên 30 quận huyện xây dựng được kho sách luân chuyển chuyên biệt.

Thảo luận kết quả

Các kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách dành cho cán bộ thư viện đang bộc lộ độ trễ lớn so với tốc độ phát triển kinh tế xã hội. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc chậm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, ngân sách địa phương cấp cho hoạt động thư viện còn hạn hẹp và nhận thức của cấp ủy, chính quyền cơ sở về vai trò của người làm thư viện chưa thực sự đầy đủ.

Dữ liệu khảo sát thực tế được trực quan hóa qua biểu đồ cơ cấu học vấn cán bộ Thư viện Hà Nội (cho thấy tỷ lệ 88,8% đại học, 8,6% sau đại học và 3% cao đẳng) và hệ thống bảng đối sánh ý kiến đánh giá theo thang đo mức độ hài lòng đối với 5 nhóm chính sách. Các số liệu cho thấy mức độ hài lòng về chính sách tiền lương và phụ cấp độc hại luôn nằm ở nhóm thấp nhất trong toàn bộ bảng khảo sát.

So sánh với các nghiên cứu ngành của TS. Vũ Dương Thúy Ngà và PGS.TS. Trần Thị Quý, phát hiện của luận văn hoàn toàn đồng nhất khi chỉ ra hiện tượng chuyển dịch nhân lực có tay nghề sang các ngành nghề khác có thu nhập cao hơn từ 40% đến 60%. Điều này làm xói mòn nguồn nhân lực chất lượng cao, gây khó khăn cho mục tiêu hiện đại hóa công tác thư viện phục vụ 149 điểm luân chuyển sách trên địa bàn Thủ đô.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hoàn thiện thang bảng lương và nâng mức phụ cấp độc hại: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì phối hợp với Bộ Nội vụ kiến nghị Chính phủ sửa đổi quy định tiền lương cho chức danh nghề nghiệp thư viện viên. Điều chỉnh nâng hệ số phụ cấp độc hại từ 0,2 lên mức tối thiểu 0,4 và tăng định suất bồi dưỡng hiện vật từ 4.000 đồng lên 20.000 đồng mỗi ngày làm việc, hoàn thành phê duyệt trong giai đoạn 2016 - 2018.
  • Chuẩn hóa định mức biên chế chuyên trách cấp huyện và phụ cấp cơ sở: Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội chỉ đạo Sở Nội vụ phân bổ tối thiểu 2 đến 3 biên chế chuyên môn chính quy cho 100% thư viện quận, huyện, chấm dứt tình trạng bố trí 1 cán bộ kiêm nhiệm. Đồng thời, ban hành cơ chế chi trả phụ cấp trách nhiệm hàng tháng từ 0,3 đến 0,5 mức lương cơ sở cho người quản lý 978 tủ sách cơ sở, thực hiện từ năm 2017.
  • Tăng cường đào tạo chuyển đổi số và công nghệ thông tin: Các cơ sở đào tạo chuyên ngành phối hợp với Thư viện Hà Nội tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ định kỳ hàng năm cho 100% cán bộ tuyến huyện về khai thác phần mềm LIBOL 6.0, số hóa tài liệu Daisy và quản trị cơ sở dữ liệu số giai đoạn 2016 - 2020.
  • Đầu tư hạ tầng kỹ thuật và cải thiện môi trường làm việc: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội cùng Ủy ban nhân dân các cấp phê duyệt dự án nâng cấp diện tích mặt bằng, lắp đặt hệ thống thông gió, máy hút bụi và điều hòa không khí đạt chuẩn cho toàn bộ kho sách của 29 thư viện quận huyện đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa các tỉnh, thành phố sử dụng tài liệu này để làm căn cứ thực tiễn xây dựng các thông tư hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thư viện và xây dựng Luật Thư viện.
  • Ban giám đốc các thư viện công cộng và thư viện chuyên ngành: Đội ngũ quản lý tại 63 thư viện cấp tỉnh có thể tham khảo mô hình phân bổ nhân lực 7 phòng ban của Thư viện Hà Nội và quy trình quản trị 65.000 bản sách luân chuyển để tối ưu hóa nguồn lực đơn vị.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Thông tin - Thư viện: Các viện nghiên cứu và trường đại học sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật về quản trị nhân sự văn hóa, phương pháp khảo sát xã hội học với cỡ mẫu 52 cán bộ huyện và 81 nhân sự thư viện thành phố.
  • Đội ngũ cán bộ thư viện và nhân viên phụ trách tủ sách cơ sở: Người lao động trực tiếp trong ngành sử dụng luận văn để hiểu rõ quyền lợi pháp lý về các chế độ phụ cấp độc hại theo Thông tư 25/2006/TT-BVHTT và quy trình thi nâng ngạch viên chức nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng.

Câu hỏi thường gặp

  • Thực trạng lớn nhất của nguồn nhân lực thư viện công cộng Việt Nam hiện nay là gì? Thực trạng lớn nhất là sự mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu và chất lượng. Toàn hệ thống có 19.691 cán bộ nhưng có đến 87,6% nhân lực ở tuyến xã phường và tủ sách cơ sở làm việc kiêm nhiệm, không có biên chế chính thức và không có lương. Trình độ thạc sĩ toàn ngành chỉ chiếm 0,23% và tiến sĩ chỉ đạt 0,01%.

  • Mức phụ cấp độc hại hiện hành cho cán bộ thư viện được quy định ra sao? Theo Thông tư số 25/2006/TT-BVHTT, người làm công tác xử lý kỹ thuật, bảo quản và tu sửa tài liệu trong kho lưu trữ được hưởng phụ cấp độc hại mức 2 với hệ số 0,2 so với mức lương tối thiểu, cùng khoản bồi dưỡng bằng hiện vật 4.000 đồng cho một ngày làm việc thực tế.

  • Tỷ lệ đào tạo chuyên môn của cán bộ thư viện quận huyện tại Hà Nội đạt mức nào? Tại 29 thư viện cấp quận, huyện của Hà Nội có tổng cộng 52 cán bộ, trong đó chỉ có 30% tốt nghiệp đại học và 42% được đào tạo đúng chuyên ngành thông tin - thư viện. Khoảng 20 cán bộ còn lại được điều chuyển từ các chuyên ngành khác và chưa qua đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu.

  • Vì sao mạng lưới tủ sách cơ sở tại các thôn làng thường khó duy trì hoạt động? Mặc dù Hà Nội có 978 tủ sách cơ sở và 177 thư viện cấp xã, phần lớn người phụ trách là cán bộ hưu trí làm việc tự nguyện. Do thiếu kinh phí bổ sung tài liệu định kỳ và chưa có cơ chế phụ cấp trách nhiệm hàng tháng nên nhiều điểm đọc hoạt động gián đoạn hoặc phải đóng cửa.

  • Luận văn đề xuất giải pháp then chốt nào nhằm hạn chế chảy máu chất xám trong ngành thư viện? Giải pháp cốt lõi là thiết lập thang bảng lương riêng gắn với vị trí việc làm, nâng phụ cấp độc hại lên mức tối thiểu 0,4, tăng mức bồi dưỡng hiện vật lên 20.000 đồng một ngày và bố trí tối thiểu 2 cán bộ chuyên trách có biên chế tại các thư viện quận huyện.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh chính sách nguồn nhân lực thông tin - thư viện trong giai đoạn đổi mới đất nước.
  • Công trình phản ánh trung thực thực trạng nhân lực thư viện Hà Nội với 88,8% cán bộ cấp thành phố đạt trình độ đại học, nhưng tuyến huyện có tới 58% cán bộ đào tạo trái ngành.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các nút thắt lớn về chế độ tiền lương, định mức phụ cấp độc hại 4.000 đồng mỗi ngày đã lạc hậu và tình trạng quá tải do kiêm nhiệm tại 14 thư viện cấp huyện.
  • Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm cải thiện thu nhập, chuẩn hóa định mức biên chế và hiện đại hóa công tác bồi dưỡng công nghệ thông tin.
  • Hệ thống khuyến nghị được phân định rõ ràng cho từng cấp quản lý từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân các cấp đến các cơ sở đào tạo đại học trong lộ trình 2016 - 2020.

Đóng góp chính của luận văn là đặt nền móng lý luận và thực tiễn vững chắc cho việc sửa đổi chính sách đãi ngộ nhân sự ngành thư viện. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và quý độc giả quan tâm đến sự nghiệp phát triển văn hóa đọc hãy tiếp tục khai thác, áp dụng các kiến nghị của luận văn vào thực tiễn quản trị nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ thông tin - thư viện vững mạnh trong kỷ nguyên số.