phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 04 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về nền kinh tế sáng tạo và chính sách phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo Chƣơng 2. Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3. Thực trạng và kinh nghiệm về chính sách phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo của Trung Quốc Chƣơng 4.
Thực trạng và giải pháp về chính sách phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo ở Việt Nam 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ SÁNG TẠO VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP SÁNG TẠO 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nƣớc CNST tuy là ngành công nghiệp mới nhƣng lại thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu và phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nƣớc phát triển. Trên thế giới có rất nhiều tài liệu, báo cáo về CNST với nội dung phong phú và tính chuyên sâu cao.
- Báo cáo của Liên Hiệp Quốc về kinh tế sáng tạo năm 2008 “Thách thức của nền Kinh tế sáng tạo: Xây dựng chính sách” là nghiên cứu đầu tiên của Liên Hợp Quốc với cái nhìn toàn cảnh về kinh tế sáng tạo. Mục đích chính của báo cáo là cung cấp khung chính sách và khái niệm về kinh tế sáng tạo, tìm ra những công cụ phân tích để xây dựng các chính sách. Báo cáo này đã xem xét lại các khái niệm, tìm ra những đặc điểm và thông số nhằm đo lƣờng tác động của công nghiệp sáng tạo ở cấp độ quốc gia và quốc tế. Những nghiên cứu định hƣớng chính sách đƣợc đƣa ra thể hiện tƣ duy kinh tế hiện đại và công cụ phân tích so sánh đƣợc sử dụng để xây dựng chính sách ở cấp quốc gia và quốc tế.
Báo cáo đã đƣa ra rằng trí tuệ sáng tạo của con ngƣời là yếu tố để phát triển bền vững chứ không phải là những yếu tố sản xuất truyền thống nhƣ lao động và sản xuất tập trung. Đây là một nguồn tham khảo hữu ích cho các nƣớc đang phát triển đế xây dựng kinh tế sáng tạo và tối đa hóa sự phát triển đất nƣớc thông qua việc nhận ra kinh tế sáng tạo là lựa chọn khả thi nhất để kết nối các lĩnh vực kinh tế, kĩ thuật và phát triển văn hóa – xã hội của đất nƣớc trong bối cảnh toàn cầu hóa. 7 z - Báo cáo của Liên Hiệp Quốc về kinh tế sáng tạo năm 2010 “Kinh tế sáng tạo: Sự lựa chọn khả thi” là một bƣớc nghiên cứu tiếp theo và sâu hơn của báo cáo năm 2008. Trong đó, kinh tế, văn hóa, xã hội và phát triển công nghệ đƣợc tái hiện trong bối cảnh toàn cầu cùng với những hệ quả của khủng khoảng kinh tế và suy thoái môi trƣờng.
Trong báo cáo, những phân tích, số liệu và bảng biểu đƣợc cập nhật thể hiện thị phần phát triển của các sản phẩm công nghiệp sáng tạo trên thị trƣờng thế giới. - Báo cáo của Liên Hiệp Quốc về kinh tế sáng tạo năm 2013 “Xuất bản đặc biệt. Các phƣơng thức mở rộng phát triển địa phƣơng” đã đƣa ra những bằng chứng về hoạt động, kinh nghiệm và nguồn lực nhằm phát triển công nghiệp sáng tạo ở cấp độ địa phƣơng. Các yếu tố tác động đến phát triển công nghiệp sáng tạo ở địa phƣơng cũng đƣợc đƣa ra phân tích theo hƣớng phát triển nhân văn và bền vững.
Các nghiên cứu cũng cung cấp những chỉ số đánh giá hiệu quả và thành công của công nghiệp sáng tạo cho các nhà xây dựng chính sách. - Viện chính sách Fiscal (2009) với nghiên cứu “Những đóng góp của các ngành CNST Thái Lan” đã giới thiệu về các ngành công nghiệp sáng tạo ở Thái Lan, và đóng góp của các ngành này vào nền kinh tế chung trong thời điểm hiện tại và dự kiến trong tƣơng lai. Báo cáo xác định những đóng góp này thông qua phân tích đầu vào và đầu ra của các ngành công nghiệp sáng tạo đƣợc lựa chọn; đƣa ra đặc điểm chuỗi giá trị có đƣợc trong mỗi ngành. Bên cạnh đó báo cáo còn cung cấp số liệu so sánh các ngành công nghiệp sáng tạo của Thái Lan với các nƣớc khác; đánh giá tác động của việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và đƣa ra một vài kiến nghị đối với chính sách của chính phủ nhằm đạt hiệu quả cao hơn trong việc phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo tại Thái Lan.
(2012) với nghiên cứu “Hallyu 2.0: Làn sóng Hàn Quốc mới trong ngành CNST” đã tái hiện lại làn sóng văn hóa Hàn Quốc du nhập vào 8 z các nƣớc Asean (Nhật Bản, Trung Quốc, Việt Nam…) và nhiều nƣớc khác trên toàn thế giới. Một số các hoạt động giải trí Hàn Quốc nhƣ các chƣơng trình tivi, phim truyện, nhạc (K-pop), trò chơi điện tử (trò chơi điện tử trực tuyến) đã trở nên phổ biến ở các nƣớc này. Bài báo cũng phân tích và đánh giá vai trò và tác động của công nghệ kĩ thuật, truyền thông xã hội và sở hữu trí tuệ đến làn sóng Hàn Quốc. - Nhóm tác giả Jeong-gon Kim, Eun-Ji Kim, Yun-ok Kim (2013) với nghiên cứu “Các mô hình thức đẩy kinh tế sáng tạo và cách thức thực hiện” đã nêu ra các biện pháp chính sách phát triển công nghiệp sáng tạo ở một số nƣớc nhƣ Anh, Phần Lan, Đức, Nhật, và Singapore đƣợc đƣa ra phân tích.
Bên cạnh đó, báo cáo cũng bàn luận về việc thực thi chính sách đúng đắn nhằm phát triền công nghiệp sáng tạo tại Hàn Quốc. - Can-seng Ooi (2006) với nghiên cứu “Du lịch và CNST ở Singapore” đã nhận định rằng nhiều thành phố trên thế giới đang nỗ lực phát triển công nghiệp sáng tạo và thu hút đầu tƣ. Bài báo trình bày trƣờng hợp phát triển công nghiệp sáng tạo tại Singapore. Tác giả nhấn mạnh du lịch đóng vai trò quan trọng đối với văn hóa và nghệ thuật của Singapore.
Tác giả đồng thời cũng phân tích thực trạng và tác động tích cực của chính phủ trong việc phát triển công nghiệp sáng tạo tại quốc gia này. Xét một cách tổng thể, nhiều tài liệu đã khẳng định ý nghĩa và tầm quan trọng của phát triển các ngành CNST ở nhiều nƣớc trên thế giới. Đồng thời, những nghiên cứu cũng luận giải chuyên sâu về quá trình phát triển, thành tựu đạt đƣợc cũng nhƣ những thách thức của việc phát triển các ngành CNST tại nhiều nƣớc. Qua đó, các giải pháp đúc kết kinh nghiệm từ phát triển ngành công nghiệp sáng tạo của các nƣớc này bao gồm: (1) tạo công ăn việc làm và thị trƣờng thông qua đổi mới và sáng tạo, (2) tăng cƣờng lãnh đạo toàn cầu đối với nền kinh tế sáng tạo của quốc gia trong mối tƣơng quan với các nền kinh tế quốc tế khác, và (3) tôn trọng tính sáng tạo và khuyến khích sáng tạo trong xã hội.
9 z Các chiến lƣợc mà các quốc gia đƣa ra để phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo bao gồm: (1) xây dựng hệ sinh thái kinh tế trong đó tính sáng tạo đƣợc tôn vinh xứng đáng và các doanh nghiệp khởi nghiệp phát triển thuận lợi; (2) khuyến khích các hãng tài chính và doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò chủ chốt trong nền kinh tế sáng tạo và thâm nhập vào thị trƣờng toàn cầu; (3) tạo động lực tăng trƣởng đối với ngành công nghiệp mới và thị trƣờng của nó (4) phát triển nguồn nhân lực có tài mang tính sáng tạo, có tầm nhìn và có đủ năng lực để trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế sáng tạo; (5) phát triển năng lực khoa học và công nghệ và đổi mới công nghệ thông tin và truyền thông và coi đó là cơ sở của nền kinh tế sáng tạo; và (6) hình thành nền văn hóa kinh tế sáng tạo khuyến khích sự tham gia của cả chính phủ và ngƣời dân. Tình hình nghiên cứu CNST ở Trung Quốc - Nhóm tác giả Hongman Zhang, Jing Wang và Di Liu (2011) với nghiên cứu “Kinh nghiệm phát triển các ngành CNST tại các nƣớc phát triển”. Trong bài báo này, các tác giả đã tổng kết các kinh nghiệm phát triển công nghiệp sáng tạo ở các nƣớc phát triển và đƣa ra chiến lƣợc phát triển của Trung Quốc, Anh, Mỹ và Đức là các quốc gia có nền công nghiệp sáng tạo phát triển với nhiều đặc điểm khác biệt đƣợc đƣa ra trong bài báo. - Hai tác giả Chee Yew Wong và Ruihong Gao (2008) với nghiên cứu “Công nghiệp sáng tạo ở Anh, Nhật và Trung Quốc: toàn cảnh quản lý chuỗi cung ứng” đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về các ngành công nghiệp sáng tạo và so sánh những ví dụ từ các nƣớc Anh, Nhật và Trung Quốc.
Từ 10 z đó, tác giả muốn tạo dựng một nền tảng để quản lý và nghiên cứu chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp sáng tạo. - Báo cáo về Công nghiệp sáng tạo Trung Quốc 2012 – 2013 của tạp chí Xuất bản – Truyền thông Trung Quốc đã phân tích 06 xu hƣớng phát triển công nghiệp sáng tạo ở Trung Quốc hiện nay, đồng thời cũng đƣa ra những thách thức trong và ngoài nƣớc trong việc phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo. Các nghiên cứu về CNST ở Trung Quốc đều cho thấy sự phát triển vƣợt bậc của các ngành CNST ở nƣớc này trong thập kỷ vừa qua. Trong đó, vai trò của chính sách chiến lƣợc phát triển CNST đóng vai trò chủ chốt trong quá trình phát triển này.
Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Ở Việt Nam, do đặc thù mới mẻ và chƣa đƣợc quan tâm nhiều, các tài liệu về CNST còn rất hạn chế. Nguồn tài liệu trong nƣớc ít về số lƣợng và chƣa có những nghiên cứu mang tính chất tổng quan, hệ thống và chính xác về CNST. - Phan Tất Thứ (2013) với nghiên cứu “Đổi Mới và Sáng tạo Trong Kinh Doanh: Một Cách Tiếp Cận Thực Tiễn” trong “Hội thảo quốc tế “Kinh doanh trong công nghiệp sáng tạo” đã đƣa ra vấn đề về đổi mới và sáng tạo trong hoạt động kinh doanh. Tác giả đã đƣa ra kết luận rằng đổi mới kinh doanh có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp.
Nghiên cứu chia hoạt động đổi mới trong doanh nghiệp làm 6 vấn đề: Cải tiến chiến lƣợc; đổi mới tổ chức, cải tiến sản phẩm, đổi mới marketing, cải tiến quy trình và đổi mới công nghệ. Phan Tất Thứ (2013) cũng đề cập đến vấn đề khởi tạo kinh doanh từ ý tƣởng và coi đó là nền tảng tƣ duy để có thể tiến hành xây dựng nên nền CNST. Nghiên cứu mới chỉ đƣa một ý tƣởng sáng tạo vào kinh doanh chứ chƣa đi vào vấn đề phát triển ngành CNST.