CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Khái niệm phát triển bền vững Phát triển bền vững được biết đến năm 1987 khi Uỷ ban thế giới về môi trường và phát triển (viết tắc là World Commission on Environment and Development - WCED) còn gọi là Uỷ ban Brundtland, Ủy ban này đã mở rộng về mặt lý luận phát triển bền vững: [1] Đó là đề ra trách nhiệm của các thế hệ sống ở hiện tại là cần phải đảm bảo những cơ hội và lựa chọn phát triển của các thế hệ khác ở trong tương lai thông qua việc bảo vệ môi trường; giảm nghèo và nền kinh tế cần sắp xếp lại mô hình thương mại đảm bảo nguồn vốn trong các mô hình kinh tế ở các nước đang phát triển có ảnh hưởng lớn hơn các nước phát triển chậm, như thế mới được cho là phát triển bền vững. Hội nghị thượng đỉnh trái đất về môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro của Brazil năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg của Cộng hòa Nam Phi năm 2002, cho rằng: [2] Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt, gồm có: phát triển kinh tế là tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội là thực hiện mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và bảo vệ môi trường là thực hiện xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường, chống cháy tàn phá rừng và phải khai thác và sử dụng tiết kiệm hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; phát triển bền vững có tính tất yếu với đời sống, được hình thành bắt đầu từ việc mọi người nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường cũng như việc giải quyết những bất bình đẳng, bất ổn trong xã hội. Từ các quan điểm đó, cho ta thấy rằng: phát triển bền vững đó là sự phát triển mà thỏa mãn được những nhu cầu của các thế hệ con người đang sống ở 20 hiện tại mà không hề làm tác hại tiêu cực đến khả năng đáp ứng những nhu cầu của các thế hệ con người ở tương lai.
Nội dung phát triển kinh tế - xã hội bền vững: Phát triển kinh tế - xã hội bền vững là việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ phát triển mà bảo đảm kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường, bao gồm: phát triển bền vững cả kinh tế, xã hội, môi trường, trên cơ sở gắn kết chặt chẽ, hữu cơ giữa phát triển kinh tế bền vững với phát triển văn hóa, xã hội bền vững, bao trùm lên tất cả mọi người, không để ai bị tụt hậu; phát triển kinh tế nhanh gắn với phát triển hài hòa, hợp lý với tiến bộ xã hội, khai thác sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường. - Phát triển kinh tế bền vững: là đảm bảo nhanh, an toàn, chất lượng; phát triển của cả hệ thống kinh tế, chú trọng tạo ra sự thịnh vượng cho tất cả mọi người không xâm phạm những quyền cơ bản của con người. Làm sao giảm dần mức tiêu phí năng lượng và các tài nguyên khác thông qua công nghệ và thay đổi lối sống; thay đổi nhu cầu tiêu thụ không gây hại đến đa dạng sinh học và môi trường; bình đẳng trong tiếp cận các nguồn tài nguyên, tiếp cận dịch vụ y tế và giáo dục; không còn đói nghèo; áp dụng công nghệ sạch vào sản xuất như tái chế, giảm phát thải các khí độc và tái tạo năng lượng đã sử dụng. Phát triển kinh tế phải có tăng trưởng GDP và GDP đầu người đạt cao: [3] Chẳng hạn như, nước đang phát triển có thu nhập cao vẫn tiếp tục giữ được nhịp độ tăng trưởng ổn định, nước nghèo có thu nhập thấp thì cần phải đạt được mức tăng trưởng nhiều hơn.
Các nước đang phát triển cần tăng trưởng GDP đạt từ 5 đến 6%/năm thì mới được đánh giá là phát triển bền vững về kinh tế. Cơ cấu về GDP, chỉ khi nào tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ trong GDP cao hơn tỷ trọng ngành nông nghiệp thì mới đánh giá 21 đó là tăng trưởng kinh tế bền vững và tăng trưởng được gọi cho là tăng trưởng có hiệu quả khi không bất chấp, đánh đổi về mọi giá để có sự tăng trưởng. Tóm tại, phát triển kinh tế bền vững là đảm bảo việc tăng trưởng kinh tế ổn định, kiểm soát được tỷ lệ lạm phát, lãi suất, nợ công, cân đối thương mại, đầu tư có chất lượng, cho năng suất cao nâng cao chất lượng khoa học và công nghệ trong sản xuất, không ảnh hưởng xấu đến xã hội và môi trường. - Phát triển xã hội bền vững: nó được đánh giá quá các tiêu chí như HDI, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ về văn hóa.
Bảo đảm đời sống xã hội hài hòa, có sự bình đẳng giữa các giai tầng, bình đẳng về giới tính, chênh lệch giữa giàu có và đói nghèo không cao và phải theo xu hướng xóa bỏ khoảng cách giàu và nghèo. Con người có chỉ số phát triển (HDI) cao, [4] cụ thể là có thu nhập bình quân đầu người, trình độ dân trí, giáo dục, có sức khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh đạt chất lượng cao. Phát triển xã hội ở đó con người được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, tất cả mọi người có cơ hội phát triển các tiềm năng của cá nhân và đảm bảo có điều kiện sống an toàn, lành mạnh. Phát triển ổn định về dân số, phát triển cân bằng giữa khu vực nông thôn và khu vực đô thị, giảm thiểu tối đa sự đô thị hóa, tất cả mọi người được nâng cao nhận thức học vấn, xóa mù chữ, môi trường văn hóa đa dạng được bảo tồn và phát huy, bình đẳng giới được chú trọng tới nhu cầu và lợi ích giới, tăng cường sự tham gia của người dân vào quá trình phát kiến, đánh giá và ra quyết định liên quan đến các vấn đề xã hội.
Tóm tại, phát triển xã hội bền vững là đảm bảo sự công bằng trong xã hội, xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, người dân có cơ hội tiếp cận đầy đủ các dịch vụ y tế, giáo dục nhưng không ảnh hưởng xấu đến kinh tế và môi trường. 22 - Phát triển môi trường bền vững: Phát triển bền vững về môi trường là: [5] Phải bảo đảm được môi trường không khí, nước, đất, không gian địa lý, cảnh quan không bị tác động dẫn đến ô nhiễm mà giữ được chất lượng môi trường an toàn. Các vấn đề về môi trường thì cần được coi trọng và đánh giá kiểm định chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế. Khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, duy trì sự cân bằng giữa khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm duy trì mức độ khai thác nguồn tài nguyên hợp lý.
Phát triển môi trường đó là việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên, nhất là tài nguyên không tái tạo được; phát triển không vượt quá mức độ chịu tải của hệ sinh thái; bảo vệ đa dạng sinh học; kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; bảo vệ các hệ sinh thái có nguy cơ bị phá hủy; giảm thiểu xả thải và khắc phục ô nhiễm nguồn nước, không khí, đất đai; cải thiện, khôi phục chất lượng môi trường ở những khu vực đã bị ô nhiễm. Tóm tại, Phát triển môi trường bền vững là việc sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, duy trì một nguồn lực ổn định, tránh việc khai thác quá mức các nguồn lực; duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái, hạn chế ô nhiễm môi trường bao gồm cả ô nhiễm đô thị và khu công nghiệp, quản lý và xử lý tốt chất thải nguy hại, ngăn ngừa và giảm biến đổi khí hậu; các doanh nghiệp thay đổi các mô hình sản xuất theo hướng công nghệ sản xuất sạch, thân thiện môi trường, đảm bảo không ảnh hưởng xấu đến kinh tế và xã hội. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội bền vững Tổ chức thực hiện phát triển kinh tế - xã hội bền vững, việc tổ chức thực hiện các chính sách phát triển về kinh tế - xã hội; các chính sách phát triển kinh tế - xã hội do các cơ quan đứng đầu của Đảng và Nhà nước thảo luận, ban hành và các cơ quan Đảng và Nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã sẽ có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện các chính sách đó đảm bảo đúng 23 theo trình tự thủ tục, nội dung và theo quy định của pháp luật, mục tiêu các chính sách đặt ra là hướng đến phát triển kinh tế - xã hội ổn định, bền vững, phục vụ người dân, nâng cao chất lượng, ổn định đời sống lâu dài cho người dân về mọi mặt của xã hội. Các chính sách được ban hành điều tập trung vào xây dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội, có thể bao quát lại gồm có: các chính sách về phát triển kinh tế, chính sách phát triển xã hội và chính sách phát triển môi trường.
Các chính sách phát triển kinh tế bền vững - Để phát triển kinh tế bền vững: Cần thực hiện các chính sách phát triển kinh tế bền vững tập trung thực hiện các nhiệm vụ về: cơ cấu kinh tế gồm ba lĩnh vực là công nghiệp - xây dựng về nông, lâm, ngư nghiệp và dịch vụ. Theo đó, để phát triển bền vững các lĩnh vực này, thì cần ban hành những chính sách để tổ chức triển khai thực hiện, tùy vào các điều kiện, từng mốc lịch sử cụ thể của mỗi địa phương, đất nước., mà đề ra các chính sách ưu tiên phát triển lĩnh vực nào trước hay còn gọi là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm đảm bảo sự thích ứng linh hoạt trong tổ chức thực hiện các chính sách để phát triển kinh tế - xã hội đảm bảo ổn định, phát triển nhanh và bền vững. Ví dụ như: Để chuyển dịch thành công định hướng phát triển kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, nước ta đã tập trung vào ban hành các chính sách, các luật về phát triển kinh tế.