PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nông nghiệp, nông thôn là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế đất nước, là bệ đỡ quan trọng để phát triển các ngành kinh tế khác, đóng góp vào sự đảm bảo của an ninh lương thực quốc gia, giải quyết việc làm cho lao động ở khu vực nông thôn. Với tốc độ đô thị hóa nhanh đang diễn ra ở thành phố Hà Nội, nhiều diện tích đất nông nghiệp đã và đang chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất đô thị và đất dịch vụ khác, tuy nhiên vẫn còn nhiều dư địa để phát triển SXNN cũng như các dịch vụ sau thu hoạch nhằm làm tăng giá trị thương phẩm nông sản phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Sau 05 năm thực hiện Đề án Tái cơ cấu ngành NN theo hướng phát triển bền vững và nâng cao giá trị.
Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng: Giá trị gia tăng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 3,35%; trong đó: Trồng trọt tăng 2,4%, chăn nuôi tăng 4,0%, thủy sản tăng 6,06%. Việc thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp cùng với đó là chuyển đổi cơ cấu kinh tế NN đã có tiến bộ rõ rệt, cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã có những chuyển biến tích cực; nhiều vùng sản xuất nông nghiệp chuyên canh tập trung có hiệu quả kinh tế cao đã được hình thành ở các địa phương của thành phố Hà Nội như vùng sản xuất lúa chất lượng cao, vùng trồng cây ăn quả, vùng trồng hoa cây cảnh, vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư, vùng nuôi trồng thủy sản.800 ha đất SXNN (chiếm 58,3% tổng diện tích đất tự nhiên của Hà Nội). Số dân khoảng 10 triệu người trong đó ở khu vực nông thôn có trên 4,1 triệu người, chiếm khoảng 40%; lao động ở KV nông thôn 2,2 triệu người, chiếm trên 40,2% lực lượng lao động của Thành phố, đồng thời hàng năm Thành phố đón khoảng 20 triệu lượt du khách đến du lịch, học tập và công tác, nhu cầu tiêu thụ nông sản thực phẩm, nhất là các thực phẩm sạch có nguồn 1 gốc rõ ràng là rất lớn. Cùng với sự phát triển của KT-XH, yêu cầu đòi hỏi của người tiêu dùng về chất lượng nông sản và thực phẩm ngày càng tăng , đồng thời nhằm phát triển NN theo hướng thân thiện, an toàn với môi trường, đã đặt ra bài toán Thành phố phải phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ (nông nghiệp sinh thái) nhằm đảm bảo tự chủ được tối đa nhu cầu của việc tiêu dùng nông sản, thực phẩm sạch và an toàn của người dân cũng như bảo vệ môi trường.
Trong thời gian qua, Chính phủ, các Bộ, Ngành và Thành phố đã quan tâm, xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích phát triển SXNN hữu cơ nhằm thúc đẩy phát triển SXNN nói chung và NN hữu cơ nói riêng, qua đó giải quyết việc làm cho lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống của những người dân ở khu vực nông thôn, góp phần đảm bảo về an ninh, an toàn lương thực quốc gia, bảo vệ sức khỏe người dân, từ đó hỗ trợ sự phát triển các ngành kinh tế khác, đồng thời bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên trong quá trình thực thi chính sách còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế như người dân còn chưa tiếp cận kịp thời với các chính sách, sự phối hợp thực thi chính sách của các cơ quan còn chưa hiệu quả. Do đó, để nâng cao hiệu quả của quá trính thực thi các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội, thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp của Thủ đô trong thời gian tới, tôi quyết định chọn đề tài: “Thực thi chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài cho luận văn nghiên cứu của mình. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Những công trình nghiên cứu liên quan của học giả nước ngoài Trên thế giới, có nhiều tác giả đã nghiên cứu đánh giá chính sách, thực thi chính sách nông nghiệp hữu cơ để thúc đẩy và phát triển nông nghiệp hữu cơ cả về quy mô và giá trị kinh tế.
Nghiên cứu của Yoshitaka Miyake và cộng sự năm 2020 về chính sách nông nghiệp hữu cơ về thực trạng, xu hướng, lợi ích và các rào cản của chính sách nông nghiệp hữu cơ tại Nhật Bản. Nghiên 2 cứu đã tiến hành khảo sát bảng hỏi đối với nhân viên phụ trách thực phẩm hữu cơ tại 20 thành phố có trên 500. Qua đó, nghiên cứu đã xem xét và so sánh các xu hướng, tình trạng và rào cản chính sách nông nghiệp hữu cơ giữa các thành phố ở Nhật Bản để xem họ đang hoạt động trong lĩnh vực nào và có những ưu đãi về chính sách nào. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt về chính sách của các thành phố như: Các thành phố lớn quan tâm hơn đến các chính sách tiêu thụ các thành phố nhỏ; Các thành phố có quy mô trang trại lớn và năng suất nông nghiệp cao thường có các chính sách tập trung vào khuyến nông nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hữu cơ.
Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin về thị trường sẽ củng cố hiệu quả của quá trình tư vấn chính sách, đặc biệt là các thành phố lớn. Nhiều nghiên cứu đã đưa ra những khó khăn và đề xuất chính sách để đạt được mục tiêu canh tác hữu cơ. Trong đó trở ngại chính của phát triển nông nghiệp hữu cơ ở các nước đang phát triển là vấn đề cơ sở hạ tầng như thị trường thích hợp, địa điểm thuận tiện để hỗ trợ nông dân hữu cơ sản xuất cây trồng hữu cơ (Veisi. Stolze và Lampkin [4] cũng cho rằng chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ nên tập trung vào ba công cụ chính; (1) công cụ pháp lý hoặc quy định (kiểm soát hữu cơ và quản lý tiêu chuẩn), (2) công cụ tài chính (thanh toán để hỗ trợ chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ), và (3) công cụ truyền thông (thông tin, truyền thông, nghiên cứu, đào tạo và tư vấn).
Hơn nữa, Thapa và Rattanasuteerakul [5] đã đề cập rằng tổ chức chính phủ, tổ chức phi chính phủ, các thành viên cộng đồng và các nhóm nông dân, tham gia các chương trình đào tạo, mức độ hài lòng về giá cả và cường độ nguy cơ dịch hại đã có thể thúc đẩy nông dân sản xuất canh tác rau hữu cơ. Trong nghiên cứu của Pasupha Chinvarasopak (2015) về các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự thành công của việc thực hiện chính sách nông nghiệp hữu cơ ở các cộng đồng địa phương tại Thái Lan đã cho thấy chính sách nông nghiệp hữu cơ là đầu ra của cả hệ thống chính trị, bắt nguồn từ xu hướng toàn 3 cầu với nhu cầu đất đai phù hợp cho nông nghiệp, hỗ trợ từ các tổ chức phi chính phủ, cạnh tranh và các tiêu chuẩn quốc tế để xuất khẩu nông sản. Việc triển khai nông nghiệp hữu cơ không được đưa vào kế hoạch hành động thường xuyên ở cấp tỉnh. Để phát triển nông nghiệp hữu cơ cân có sự hỗ trợ từ chính sách vốn xã hội hóa, kết hợp sức mạnh nông dân trong việc chia sẻ, học hỏi kiến thức và những kinh nghiệm về sản xuất nông nghiệp hữu cơ, thương lượng để có giá sản phẩm hữu cơ cao hơn cũng như nhận được sự hỗ trợ từ cả khu vực nhà nước và tư nhân.
Bên cạnh đó, chính sách nông nghiệp hữu cơ cần phù hợp với đặc điểm và nhu cầu cần thiết, phát huy kiến thức, tận dụng công nghệ và đổi mới phù hợp, kết hợp với sự giúp đỡ của chuyên gia cho các mức độ khác nhau về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Những công trình nghiên cứu liên quan của học giả trong nước Để phát triển nền nông nghiệp bền vững ứng phó với hậu quả của biến đổi khí hậu, đảm bảo an ninh lượng thực, môi trường và nâng cao đời sống của người dân, ở Viêt Nam cũng đã nhiều công trình nghiên cứu cũng như đưa ra những giải pháp đáp ứng tình trạng trên. Nghiên cứu của Ngô Thị Thu Hà (2017) về “phát triển nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu trên thế giới và hàm ý cho Việt Nam” đã phân tích những chính sách phát triển nông nghiệp của các nước nông nghiệp trên thể giới như: Isaren, Hà Lan…Từ đó, tác giả đã đề xuất bốn giải pháp cho nông nghiệp Việt Nam đó là: chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, các thông tin về biến đổi khí hậu, biến những khó khăn thành thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp bện vững; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ cao bằng việc tăng cường các nguồn vốn đầu tư cho khoa học, công nghệ, tăng cường xây dựng hệ thống công trình phòng, chống thiên tai, giảm nhẹ những tác động xấu đến môi trường, gia tăng quản lý nhà nước về nước thải nông nghiệp, áp dụng các biện pháp giảm khí thải nhà kính; gia tăng nhận thưc về nền kinh tế xanh trong phát triển nông nghiệp, lựa chọn các lĩnh vực cần tiếp tục nghiên cứu để chuyển giao phù hợp 4 với thực tiễn sản xuất; đào tạo và thu hút nhân lực vào nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu; hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước đối với nông nghiệp và một số tài nguyên quan trọng, kết hợp giữa quản lý theo ngành, theo chức năng với quản lý theo vùng lãnh thổ và địa phương. Nghiên cứu của Nguyễn Hùng Cường và cộng sự (2021) về ‘định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, công nghệ cao thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam trong thời đại công nghiệp” 4.0 đã chỉ ra thực trạng và hệ quả của biến đổi khí hậu tác động đến sự phát triển của nông nghiệp.
Bên cạnh đó nghiên cứu cũng phân tích thực trạng nông nghiệp công nghệ cao và định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Việt Nam. Từ đó đề xuất giải pháp khắc phục hậu quả của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp và phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp ứng phó với biến đổi khí hậu, định hướng phát triển nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu của Khổng Tiến Dũng (2022) về các giải pháp thúc đẩy sản xuất lúa theo hướng hữu cơ và đề xuất một số giải pháp tại Đồng bằng sông Cửu Long.