Đặt vấn đề Nâng cao chất lƣợng sống của ngƣời dân đƣợc xem là một trong những ƣu tiêu hàng đầu trong các chƣơng trình mục tiêu quốc gia ở những nƣớc có thu nhập trung bình và thấp. Trong đó, giảm nghèo đƣợc nhìn nhận nhƣ là một chỉ tiêu để đo lƣờng và đánh giá kết quả thực hiện các chƣơng trình này. Song song đó, các mô hình tăng trƣởng kinh tế cho thấy rằng phát triển tài chính đƣợc xem là yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế. Thông qua chính sách tiền tệ và hệ thống ngân hàng thƣơng mại, Ngân hàng Trung ƣơng có thể điều phối lƣợng cung tiền trong toàn thể nền kinh tế.
Cùng với chính sách tài khóa, các yếu tố tài chính sẽ có ảnh hƣởng lớn đến sản lƣợng của một quốc gia. Ở một khía cạnh khác, phát triển kinh tế dƣờng nhƣ là yếu tố có tính chất quyết định đến việc chất lƣợng cuộc sống ngƣời dân có đƣợc nâng cao hay không. Hàm tiêu dùng đã chứng minh rằng chi tiêu tiêu dùng của ngƣời dân thụ thuộc vào thu nhập. Do đó, nếu thu nhập tăng lên thì chi tiêu tiêu dùng của ngƣời dân cũng sẽ tăng lên.
Khi con ngƣời có thể đáp ứng những nhu cầu cơ bản của cuộc sống nhƣ lƣơng thực, thực phẩm.thì mức độ nghèo của họ đã đƣợc cải thiện. Chính vì vậy, phát triển tài chính đƣợc nhìn nhận là có ảnh hƣởng quan trọng đến việc giảm nghèo tại các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Đây đƣợc xem là hiệu ứng lan tỏa của phát triển tài chính lên giảm nghèo (trickle - down). Bên cạnh đó, phát triển tài chính sẽ có tác động trực tiếp làm giảm nghèo do ngƣời nghèo có thể tiếp cận các khoản vay dễ dàng hơn và phá vỡ vòng xoáy nghèo.
Tuy nhiên, ở chiều hƣớng ngƣợc lại, một số nghiên cứu lại chứng tỏ ngƣời nghèo chƣa chắc đƣợc hƣởng lợi từ phát triển tài chính. Chính vì vậy, cách nhìn nhận về ảnh hƣởng của phát triển tài chính lên giảm nghèo chƣa nhận đƣợc sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu Dựa trên những nền tảng lý thuyết, mục tiêu và cũng là câu hỏi chính của bài nghiên cứu là xem xét: Liệu phát triển tài chính có giúp giảm nghèo tại các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp? Từ đó xác định chiều hƣớng tác động nhân quả Granger giữa phát triển tài chính và giảm nghèo tại các quốc gia này. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu mới nhất trong giai đoạn 1995-2015 để xem xét tác động của phát triển tài chính lên giảm nghèo.
Các quốc gia đƣợc đƣa vào nghiên cứu là 49 quốc gia có thu nhập trung bình và thấp theo phân loại của Ngân hàng Thế giới (World Bank) và có đầy đủ bộ dữ liệu đƣợc Ngân hàng Thế giới công bố trong khoảng thời gian này. Trong số 49 quốc gia đƣợc nghiên cứu, có 16 quốc gia châu Âu và châu Á (trong đó có Việt Nam), 13 quốc gia Châu Mỹ La tinh và 20 quốc gia thuộc châu Phi. Phƣơng pháp nghiên cứu Các biến đƣợc đƣa vào nghiên cứu là CR (tín dụng nội địa của khu vực tƣ nhân*100/GDP) và M3 (cung tiền M3*100/GDP) đại diện cho phát triển tài chính; POV (chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu ngƣời) đại diện cho nghèo. Trong đó, CR (đƣợc tính toán bằng tín dụng nội địa của khu vực tƣ nhân *100/GDP danh nghĩa), đây đƣợc xem nhƣ là chỉ số chung của phát triển tài chính.
Biến thứ hai đƣợc sử dụng để đại diện cho phát triển tài chính là M3 (đƣợc tính toán bằng cung tiền M3*100/GDP danh nghĩa), đây đƣợc xem là biến thể hiện mức độ lƣu hành tiền tệ của phát triển tài chính. Biến này chỉ ra độ lớn thực sự của khu vực tài chính trong một nền kinh tế. Ngân hàng Thế giới (2005) nhìn nhận rằng chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu ngƣời đƣợc xem là một trong những chỉ tiêu để đo lƣờng nghèo của một quốc gia. Do đó, bài nghiên cứu sử dụng chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu ngƣời (POV) là biến đại diện cho nghèo ở các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp.
Khi chi tiêu tiêu dùng bình quân đầu ngƣời của một quốc gia tăng lên thì quốc gia đó đã giảm nghèo. 4 Trong bài nghiên cứu này, vài biến kiểm soát đƣợc thêm vào mô hình hồi quy. Đầu tiên, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đƣợc sử dụng để xem xét sự ổn định kinh tế vĩ mô bởi tỷ lệ lạm phát cao đƣợc nhìn nhận sẽ có tác động tiêu cực mạnh lên ngƣời nghèo. Ngoài ra, độ mở thƣơng mại (TO) đƣợc đƣa vào mô hình để xem xét tác động từ độ mở của nền kinh tế, biến này đƣợc tính toán bằng cách lấy tổng xuất khẩu và nhập khẩu *100/GDP danh nghĩa.
Để phù hợp cho việc nghiên cứu và thực hiện các mô hình ƣớc lƣợng, dữ liệu của các biến trong mô hình nghiên cứu đƣợc đƣa về logarit tự nhiên tƣơng ứng là LPOV, LCR, LM3, LCPI và LTO. Dự đoán rằng giữa các biến đƣợc nghiên cứu có mối quan hệ trong dài hạn nên bài nghiên cứu thực hiện kiểm định hiện tƣợng đồng liên kết bằng phƣơng pháp Pedroni. Do có hiện tƣợng đồng liên kết xảy ra nên phƣơng pháp ƣớc lƣợng đƣợc sử dụng là hồi quy mô hình FMOLS và mô hình VECM. Bên cạnh đó, để nhận diện mối quan hệ nhân quả giữa các biến, bài nghiên cứu sẽ thực hiện kiểm định nhân quả Granger.
Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm Eviews 8 để thực hiện các kiểm định và ƣớc lƣợng các mô hình hồi quy. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Giảm nghèo luôn là vấn đề đƣợc chính phủ các nƣớc có thu nhập trung bình và thấp quan tâm. Vì vậy, kết quả thu đƣợc từ nghiên cứu này có thể đƣợc xem nhƣ là một tài liệu tham khảo đối với các nhà làm chính sách của các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp. Từ đó, chính phủ các nƣớc có thể thiết lập các chính sách phát triển tài chính phù hợp với phát triển kinh tế và hƣớng đến các mục tiêu quốc gia nhƣ giảm nghèo.
Kết cấu bài nghiên cứu Bài nghiên cứu bao gồm 5 chƣơng: chƣơng 1 giới thiệu nội dung của bài nghiên cứu, chƣơng 2 trình bày lý thuyết nền và tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây, chƣơng 3 mô tả các biến nghiên cứu, dữ liệu và phƣơng pháp ƣớc lƣợng đƣợc sử dụng, chƣơng 4 thể hiện kết quả nghiên cứu và chƣơng 5 trình bày kết luận của bài nghiên cứu. 6 CHƢƠNG 2: LÝ THUYẾT NỀN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY 2. Phát triển tài chính Theo nghiên cứu của R.Levine (2005), phát triển tài chính xảy ra khi các công cụ tài chính, thị trƣờng tài chính và các tổ chức trung gian thực hiện tốt 5 chức năng tài chính: Cung cấp đầy đủ các thông tin về các khoản đầu tƣ Giám sát các khoản đầu tƣ và thực hiện quản trị doanh nghiệp Kinh doanh, đa dạng hóa và quản trị rủi ro Huy động và tổng hợp tiết kiệm Vận hành hệ thống thanh toán để trao đổi hàng hóa và dịch vụ 2. Nghèo Nghèo Đƣợc xem là ngƣời đầu tiên đi tìm thƣớc đo nghèo, Rowntree (1910) cho rằng nghèo là tình trạng thiếu một lƣợng tiền cần để có đƣợc những thứ tối thiểu cần thiết để duy trì thể chất thuần túy.
Ngoài ra, Ngân hàng thế giới (1990) đã định nghĩa nghèo là tình trạng không có khả năng để sống ở mức sống tối thiểu. Hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng do ESCAP tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9/1993 đã định nghĩa nghèo là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con ngƣời mà những nhu cầu này đã đƣợc xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phƣơng. 7 Đinh Phi Hổ (2009) đã đƣa ra khái niệm nghèo là tình trạng bị thiếu thốn về nhiều phƣơng diện nhƣ thu nhập thấp do thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hằng ngày của cuộc sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và dễ bị tổn thƣơng trƣớc những mất mát. Giảm nghèo Trần Thị Hằng (2001) cho rằng giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cƣ nghèo nâng cao mức sống, từng bƣớc thoát khỏi tình trạng nghèo.
Nói một cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cƣ nghèo lên một mức sống cao hơn. Các mô hình lý thuyết Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và giảm nghèo đƣợc hình thành và xây dựng dựa trên những nền tảng lý thuyết kinh tế. Điển hình là mô hình tăng trƣởng Harrod – Domar chứng minh rằng phát triển tài chính sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, phát triển kinh tế lại giúp thu nhập của ngƣời dân tăng lên.
Khi thu nhập tăng lên thì hàm tiêu dùng của Keynes đã cho thấy chi tiêu tiêu dùng của ngƣời dân cũng sẽ cao hơn. Khi ngƣời dân có đủ tiền để trang trải cho những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống nhƣ lƣơng thực thực phẩm thì họ đã giảm nghèo. Bên cạnh tác động gián tiếp này thì phát triển tài chính lại có tác động trực tiếp giúp giảm nghèo do phát triển tài chính giúp ngƣời nghèo có thể tiếp cận các khoản vay dễ dàng hơn và phá vỡ vòng xoáy nghèo của chính họ. Các mô hình tăng trƣởng kinh tế Ảnh hƣởng của phát triển tài chính lên phát triển kinh tế đƣợc lập luận dựa trên nền tảng các mô hình tăng trƣởng.
Cụ thể, trong mô hình tăng trƣởng Harrod – Domar, các nhà kinh tế học cho rằng nguồn gốc của tăng trƣởng kinh tế chính là lƣợng vốn sản xuất tăng thêm (∆K) có đƣợc từ đầu tƣ và tiết kiệm của quốc gia. Nhƣ vậy, tốc độ tăng trƣởng sản lƣợng đầu ra phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm hoặc tỷ lệ đầu tƣ (s) hoặc hệ số gia tăng vốn – đầu ra (ICOR) 8 Ngoài ra, mô hình tăng trƣởng của Solow (1956) đƣa ra kết luận rằng một nền kinh tế có tỷ lệ tiết kiệm cao hơn thì nền kinh tế đó sẽ có mức sản lƣợng (GDP) cao hơn. Bên cạnh đó, mô hình Sung Sang Park và mô hình Tân cổ điển của Alfred Marshall cũng đều nhấn mạnh tầm quan trọng của tiết kiệm và vốn đầu tƣ trong việc thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế. Các mô hình này đều chỉ rõ tỷ lệ tiết kiệm là nhân tố then chốt quyết định khối lƣợng vốn ở trạng thái dừng.