Chương 1: Một số cơ sở lý luận về chính sách phát triển kinh tế nông thôn Chương 2: Phân tích thực trạng chính sách phát triển kinh tế nông thôn của thành phố Điện Biên Phủ Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển kinh tế nông thôn của thành phố Điện Biên Phủ đến năm 2025, tầm nhìn 2030 7 Luan van CHƢƠNG 1: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm cơ bản về kinh tế nông thôn và chính sách kinh tế nông thôn 1. Kinh tế nông thôn Khái niệm nông thôn Nông thôn (NT) được hiểu là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn và được quản lý bởi cấp hành chính sơ sở là UBND xã (Thông tư số 54/2009/TT – BNNPTNT ngày 21/08/2009). Tại điều 3 Nghị định 57/2018/NĐ – CP ngày 17/04/2018 đưa ra khái niệm “Nông thôn là khu vực địa giới hành chính không bao gồm địa bàn phường thuộc thị xã, quận và thành phố”.
Khu vực nông thôn có các đặc trưng cơ bản là: là địa bàn sinh sống và làm việc của một cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân với mật độ dân cư thấp hơn đô thị, thành phố; là vùng sản xuất nông nghiệp (nông, lâm, thủy sản) là chủ yếu; là vùng có trình độ văn hóa, KHKT và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội kém hơn so với khu vực thành thị; chịu sức hút của thành thị về nhiều mặt, dân cư nông thôn thường tìm cách di chuyển vào các đô thị và thành phố. Khái niệm kinh tế nông thôn Kinh tế nông thôn (KTNT) được hiểu là một tổng thể của các ngành kinh tế trong khu vực nông thôn (Nguyễn Trọng Thừa, 2012). Trong đó, KTNT gồm các ngành liên quan mật thiết với nhau như nông nghiệp (theo nghĩa rộng) và công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn nông thôn. Các ngành kinh tế này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về số lượng và liên quan chặt chẽ về mặt chất.
Trước đây, khi nói đến KTNT, người ta thường cho rằng hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu và bao trùm khu vực NT. Nhắc đến KTNT đồng nghĩa đang nhắc đến nông nghiệp. Tuy nhiên, đến ngày nay, sự phát triển của KHKT đã thúc đẩy các hoạt động kinh tế ở khu vực NT theo hướng đa dạng và phong phú, hoạt động sản xuất ở NT không còn đơn thuần chỉ là sản xuất nông nghiệp mà còn có sự xuất hiện và đóng góp tích cực của ngành CN và DV. Mặc dù vậy, ngành nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng ở khu vực NT.
Khái niệm cơ cấu kinh tế nông thôn Cơ cấu kinh tế (CCKT) có thể hiểu là một tổng thể các bộ phận hợp thành nền kinh tế cùng các mối quan hệ chủ yếu về định tính và định lượng, ổn định và phát triển giữa các bộ phận ấy với nhau hay của toàn bộ hệ thống trong những điều kiện của nền sản xuất xã hội và trong những khoảng thời gian nhất định (Ngô Thắng Lợi, 2012). Có thể thấy rằng CCKT không phải một hệ thống tĩnh bất biến mà luôn ở trạng thái vận động, chuyển biến 8 Luan van không ngừng về số lượng và tỷ trọng trong GDP giữa các bộ phận nhằm hướng vào các mục tiêu cụ thể. Cơ cấu kinh tế nông thôn (CCKTNT): từ các khái niệm và phân tích ở trên có thể hiểu cơ cấu kinh tế nông thôn là tổng thể các mối quan hệ kinh tế và tác động qua lại giữa các bộ phận cấu thành của nền KTNT. CCKTNT thường được xem xét trên 3 góc độ chính bao gồm: cơ cấu ngành kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ), cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế.
Trong đó, cơ cấu ngành là cách tiếp cận quan trọng nhất. Khái niệm phát triển kinh tế nông thôn Phát triển kinh tế nông thôn là sự gia tăng về quy mô, số lượng, chất lượng của các ngành trong nền KTNT bằng hệ thống các công cụ, chính sách tác động vào hoạt động kinh tế diễn ra ở khu vực NT nhằm không ngừng cải thiện đời sống, văn hóa, tinh thần của người dân trên địa bàn nông thôn , góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vùng và đất nước. Chính sách phát triển kinh tế nông thôn Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể hay tổ chức nhất định khẳng định và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của chính phủ nó bao gồm các mục tiêu mà chính phủ muốn đạt được và cách làm để thực hiện các mục tiêu đó".
Những mục tiêu này bao gồm sự phát triển toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hóa - xã hội - môi trường. Như vậy có thể hiểu: “Chính sách là tập hợp các hoạt động liên quan với nhau, được lựa chọn và quyết định để thực hiện, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Chính sách là cơ sở nền tảng để chế định nên pháp luật. Hay nói cách khác, pháp luật là kết quả của sự thể chế hóa chính sách.
Có thể có chính sách chưa được luật pháp hóa (thể chế hóa), hoặc cũng có thể không bao giờ được luật pháp hóa vì nó không được lựa chọn để luật pháp hóa khi không còn phù hợp với tư tưởng mới hay sự thay đổi của thực tiễn. Nhưng sẽ không có pháp luật phi chính sách hay pháp luật ngoài chính sách. Một trong những hệ thống chính sách quan trọng của Nhà nước là chính sách kinh tế. Chính sách kinh tế là thuật ngữ được sử dụng để mô tả các hành động của Chính phủ nhằm mục đích ảnh hưởng đến nền kinh tế của quốc gia.
Hiểu theo cách đơn giản, chính sách kinh tế là hành động của Chính phủ để đạt được một hay nhiều mục tiêu kinh tế. Từ khái niệm chính sách, chính sách kinh tế nêu trên có thể đưa ra khái niệm cơ bản về chính sách phát triển kinh tế nông thôn như sau: Chính sách phát triển kinh tế nông thôn 9 Luan van là tổng thể các quyết định và phương pháp hành động của Nhà nước tác động lên các hoạt động của kinh tế nông thôn nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra. Nội dung chính sách phát triển kinh tế nông thôn của một địa phƣơng 1. Chính sách đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ nông thôn Mục tiêu của chính sách: Địa phương cấp tỉnh ban hành chính sách đất đai của địa phương mình nhằm khuyến khích người canh tác, sản xuất kinh doanh sử dụng đầy đủ, tiết kiệm và hợp lý đất đai.
Cần phải gắn việc sử dụng với bảo vệ, tái tạo và khôi phục chất lượng đất đai để đảm bảo đất đai đáp ứng yêu cầu của sản xuất, kinh doanh; nhất là đối với đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai thông qua việc khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và quá trình tích tụ ruộng đất bằng việc thực hiện dồn điền đổi thửa, chuyển đổi, chuyển nhượng đất đai để phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa. Để thực hiện mục tiêu của chính sách này, địa phương cấp huyện đã thực hiện Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai của huyện trong từng giai đoạn, trình UBND, HĐND cấp tỉnh xem xét và phê duyệt thông qua các Nghị quyết, Quyết định; trên cơ sở đó huyện tiếp tục ban hành Nghị quyết, Quyết định của UBND, HĐND cấp huyện cùng với các văn bản hướng dẫn khác về việc phân bổ, quản lý và sử dụng đất đai của tỉnh trong đó có khu vực nông thôn. Nội dung chủ yếu của chính sách: Sau khi được UBND, HĐND tỉnh phê duyệt thông qua các Nghị quyết, các Quyết định về chính sách đất đai đối với địa phương cấp huyện; UBND huyện, HĐND huyện thực hiện triển khai các thủ tục giao đất; cho thuê đất tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân được sử dụng quỹ đất ổn định và lâu dài.
Căn cứ vào đặc điểm từng loại đất, từng vùng và mức độ đầu tư hạ tầng cần thiết, tỉnh sẽ đưa ra căn cứ định giá đất; chính sách chuyển nhượng đất; mức độ đền bù khi thu hồi đất; điều kiện thế chấp khi vay vốn. Chính quyền địa phương thực hiện kiểm soát, quản lý chặt chẽ việc tích tụ, tập trung ruộng đất phù hợp với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sự phát triển của cả công nghiệp và dịch vụ, không để việc tích tụ ruộng đất diễn ra tự phát làm cho người nông dân mất ruộng mà không có việc làm, trở thành bần cùng hóa. Có biện pháp giúp đỡ những người không có đất sản xuất để thực hiện xóa đói, giảm nghèo. Đẩy mạnh việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho nông dân; giải quyết những tranh chấp và khiếu nại (kiện tụng) về đất đai.
Chính quyền 10 Luan van địa phương tạo điều kiện thuận lợi để nông dân thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật các quyền sử dụng đất đai, khuyến khích nông dân thực hiện “dồn điền đổi thửa" trên cơ sở tự nguyện; nông dân được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để góp vốn cổ phần tham gia phát triển sản xuất, kinh doanh, liên doanh, liên kết. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao Mục tiêu của chính sách: Nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị kinh tế cao đổi với các cây trồng, vật nuôi được lựa chọn là thế mạnh của mỗi vùng, mỗi địa phương trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh; góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa được sản xuất ra ở khu vực nông thôn. Nội dung chủ yếu của chính sách: Đẩy mạnh chuyển đổi sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, giá trị, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu thị trưởng.
Xây dựng và từng bước phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn theo hình thức trang trại, gia trại đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, có sự liên kết giữa việc sản xuất nông nghiệp với công tác bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị đối với các sản phẩm có lợi thế như lúa gạo, ngô, khoai, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản, gỗ nguyên liệu.