CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LÃI XUẤT VÀ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH NGHÀNH XÂY DỰNG 1.1 Lý luận chung về lãi suất 1.1 Khái niệm vàvai trò của lãi suất 1.1 Khái niệm lái suất Theo quan điểm của K.Marx: “Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị tư bản – chủ ngân hàng chiếm đoạt” Như vậy theo K.Marx lãi suất có nguồn gốc từ lợi nhuận, là một bộ phận của lợi nhuận. Tuy nhiên, ta thấy phạm vi đề cập của K.Marx chỉ ở phạm vi của quan hệ cho vay và đi vay do sự phát triển hạn chế của các quan hệ tài chính, tiền tệ ở thời kỳ đó Quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại cho rằng: “Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản”. Lãi suất do đó còn được gọi là sự trả công cho sự chia lìa với của cải, tiền tệ. Nói một cách khác lãi suất chính là kết quả của hoạt động tiền tệ Quan điểm coi lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ, là chi phí cơ hội của việc giữ tiền có thể nói là một bước tiến lớn trong việc xác định các hình thức biểu hiện và những nhân tố tác dộng tới lãi suất Tóm lại, lãi suất được biểu hiện theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau.
Khi đến hạn, người đi vay sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăn của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất ( World Bank ). SV: Dương Minh Đăng 3 Lớp: CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 1.2 Vai trò của lãi suất Lãi suất là một công cụ điều tiết cho vay kinh tế rất nhạy bén và hiệu quả: Thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng vốn đầu tư, do vậy nó có thể tác động vào quá trình điều chỉnh cơ cấu, đến tốc độ tăng trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước. Hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất định của nên kinh tế mở, chính sách lãi suất còn được sử dụng như một công cụ góp phần điều tiết đối với các luồng vốn đi vào hay đi ra đối với một nước, tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn định của tỷ giá.
Điều này không những tác động đến đầu tư phát triển kinh tế mà còn tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế của nước đó đối với nước ngoài. Lãi suất là công cụ điều tiết đối với thị trường: Thị trường hàng hóa, thị trường tài chính. Đối với thị trường hàng hóa khi giá cả tăng lên thì nhà nước điều tiết giá cả xuống bằng cách cho vay đối với người sản xuất hàng hóa đó khi đó cung hàng hóa tăng dẫn đến giá cả giảm. Còn đối với thị trường tài chính là nơi diễn ra hoạt động mua bán vốn mà giá cả ở đây chính là lãi suất.
Lãi suất chính là cơ sở để cho các cá nhân các doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay tiết kiệm; đầu tư số vốn vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác. Lãi suất còn là cơ sở để cũng cố hạch toán kinh tế. Lãi suất là một khoản chi phí cộng với chi phí sản xuất khác từ đó ta có được tổng chi phí.2 Các loại hình lãi suất và cơ chế xác định lãi suất: 1.1 Các loại hình lãi suất: Theo cách tính lãi: Lãi suất đơn: Áp dụng cho những món vay đơn có thời hạn tính lãi trùng với chu kỳ tính lãi SV: Dương Minh Đăng 4 Lớp: CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Lãi suất tích hợp: Áp dụng cho những món vay đơn có thời hạn tính lãi khác với chu kỳ tính lãi Theo giá trị của khoản thu nhập: Lãi suất danh nghĩa là lãi suất ghi ở hợp đồng kinh tế ( cam kết giữa hai bên về lãi suất). Chưa dảo bảo lãi suất người cho vay.
Lãi suất thực là lãi suất danh nghĩa sau khi loại bỏ đi yếu tố lạm phát. Quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế được biểu thị bằng các công thức sau: ( 1+r)( 1+i) = ( 1 +R) Trong đó: - r là lãi suất hiệu quả - i là lãi suất danh nghĩa - n là số kỳ được tính gộp lãi hàng năm Theo hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Lãi suất tiền gửi thông thường là lãi suất mà ngân hàng thương mại trả cho người gửi tiền trên số tiền ở tài khoản tiền gửi tiết kiệm (đã bao gồm tỷ lệ lạm phát). Lãi suất tiền gửi = Lãi suất cơ bản + Tỷ lệ lạm phát Lãi suất cho vay cũng bao gồm nhiều loại khác nhau tùy theo tính chất của món vay và thời hạn của món vay. Lãi suất cho vay = Lãi suất tiền gửi + Chi phí cho hoạt động của ngân hàng Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay tiền nhằm giải quyết nhu cầu về vốn ngắn hạn trên thị trường tiền tệ như lãi suất Libor, Sibor, Pibor, Vibor.
Theo chính sách điều hành của Ngân hàng Nhà nước: Lãi suất cấp vốn: Là hình thức ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng có bảo đảm cho các ngân hàng nhằm cung ứng vốn ngắn hạn. Như vậy lãi suất tái cấp vốn là lãi suất được sử dụng trong trường hợp NHNN tái cấp vốn cho các SV: Dương Minh Đăng 5 Lớp: CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính ngân hàng. Ở Việt Nam, NHTW tái cấp vốn cho các NHTM qua các hình thức: cho vay lại theo hồ sơ tín dụng; chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác; cho vay lại dưới hình thức cầm cố các giấy tờ có giá ngắn hạn. Lãi suất tái chiết khấu: Là một hình thức của lãi suất tái cấp vốn được áp dụng khi ngân hàng nhà nước tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn cho các ngân hàng.
Lãi suất cơ bản: Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung cầu vốn. Lãi suất thỏa thuận: Là ngân hàng có thể thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất trần cho các khoản vay.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất và cơ chế xác định lãi suất: 1.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất: Ảnh hưởng của cung – cầu vốn: Nếu cung về vốn tín dụng lớn hơn cầu tín dụng sẽ làm cho lãi suất tín dụng giảm đi và ngược lại nếu cầu vốn tín dụng lớn hơn cung tín dụng thì sẽ tác động làm lãi suất tín dụng tăng lên. Vì mức cung phụ thuộc vào lượng tiền tiết kiệm của dân cư, doanh nghiệp và của nhà nước còn cầu phụ thuộc vào mức độ tiêu dùng của dân cư, yêu cầu đầu tư và quy mo sản xuất của doanh nghiệp cung bội chi ngân sách Nhà nước. Ảnh hưởng của lạm phát: Nếu tỷ lệ lạm phát tăng cao làm cho giá trị thực tế vốn vay và lợi tức có xu hướng giảm xuống, điều này sẽ tác động làm lãi suất tín dụng có xu hướng tăng lên.
Vì muốn duy trì lãi suất thực không đổi khi mà tỷ lệ lạm phát tăng thì đòi hỏi lãi suất danh nghĩa cũng phải tăng lên tương ứng. Không những vậy khi dân dự đoán mức lạm phát tăng họ sẽ thay vì gửi tiết kiệm bẳng việc SV: Dương Minh Đăng 6 Lớp: CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính dự trữ hàng hóa hoặc các dạng tai sản như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu tư vốn ra nước ngoài. Hiệu quả của hoạt động kinh doanh: Lãi suất tín dụng có liên quan mật thiết với hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và chịu sự chi phối của lợi nhuận bình quân. Khi hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao thì vốn sẽ ít đi vì thay vì người ta gửi tiết kiệm người ta sẽ đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhiều hơn khi đó người ta vay nhiều hơn tức là cầu về tiền tệ lớn hơn cung về tiền tệ, cầu tăng thì lãi suất tăng lên.
Tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước: Khi bội chi ngân sách Nhà nước tăng lên nhu cầu vay vốn tài trợ thiếu hụt ngân sách nhà nước tăng lên ở mọi mức lãi suất, khi đó cầu về vốn tín dụng tăng lên làm cho lãi suất tăng. Mặt khác bội chi ngân sách Nhà nước sẽ tác động đến tâm lý công chúng sẽ gây áp lực tăng lãi suất, ngoài ra khi bội chi ngân sách Nhà nước chính phủ thường gia tăng phát hành trái phiếu, lượng cung trái phiếu trên thị trường sẽ làm tăng giá trị trái phiếu có xu hướng giảm xuống lãi suất thị trường vì vậy lại tăng lên. Tỷ giá: Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nước khác. Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như cán cân thanh toán quốc tế, cung cầu ngoại tệ, lạm phát.
trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay làm cho không một quốc gia nào, nếu muốn tồn tại và phát triển, lại không tham gia thực hiện phân công lao động và thương mại quốc tế. Thông qua quá trình trao đổi buôn bán giữa các nước, tỷ giá (tỷ giá được niêm yết theo phương pháp biểu hiện trực tiếp) của một nước tăng, xuất khẩu tăng lên nguồn thu ngoại tệ tăng lên. SV: Dương Minh Đăng 7 Lớp: CQ50/18.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Điều đó làm tăng cung ngoại tệ, tương đương với việc tăng cầu nội tệ kết quả làm lãi suất tăng lên.