Chương 1: BOI CANH RA ĐỜI CUA CHÍNH SÁCH KINH TE MỚI PHIÊN BẢN HÀN QUÓC 1. Bối cảnh quốc tế và khu vực 1. Boi cảnh quốc tế Năm 2020, các quốc gia trên thế giới phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng do đại dịch COVID-19 gây ra. Đây được xem là một cuộc khủng hoảng toàn cầu lớn nhất trong hơn một thé kỷ [6].
Tính đến cuối năm 2020, hon 80 triệu người trên toàn thé giới đã được chân đoán mắc COVID-19 và khoảng 1,8 triệu ca tử vong đã được ghi nhận [6]. Đây không chỉ là sự khủng hoảng về y tế toàn cầu mà còn tác động tiêu cực đên tình hình kinh tê- xã hội của các quôc gia, đên sinh kê và đời sông của các hộ gia đình và mọi người dân.1: Tỷ lệ tăng trưởng GDP của một số nước trên thế giới giai đoạn 2019- 2020 (don vị tính: %) (Nguon: OECD, 2021) Thời gian Năm 2019 Năm 2020 Quốc gia Quý 4-2019 Quý1-2020 | Quý 2-2020 Úc 2,1 -1,2 -39,5 Ao 0,1 -9,9 -32,6 Bi 1,9 -13,6 -47,1 Canada 0,6 -8,2 -37,9 Chile -15,3 12/7 -43,2 Colombia 1,9 -9,2 -42,8 Cộng hòa Séc 1,9 -12,7 -47,3 Đan Mạch 1,7 -8,1 -31,5 Estonia 3,5 -14,0 -39,5 Phan Lan -2,3 -3,4 -41,8 Pháp -0,4 -19,7 -54,8 Đức -0,4 -8,6 -42,5 Hy Lạp -2,7 -6,2 -44,9 Hungary 2,7 -1,6 -47,7 Iceland 20,7 -25,2 -33,9 Ireland 7,1 4,7 -54,7 Israel 4,7 -7,1 -42,5 Italia -1,0 -19,6 -51,8 Nhật Bản -7,3 -3,4 -33,3 Hàn Quốc 5,4 -5,0 -15,0 Litva 4,3 -1,4 -53,8 Luxembourg 1,8 -3,1 -37,2 Ha Lan 1,6 -6,7 -47,3 Tan Tay Lan 0,6 -3,6 -47,7 Na Uy 6,1 -6,0 -37,9 Bỏ Dao Nha 3,0 -14,2 -48,1 Cộng hòa Slovakia 24 -19,7 -35,8 Slovenia 1,7 -16,9 -26,4 Tay Ban Nha 1,7 -19,4 -57,0 Thuy Dién -0,1 0,5 -36,7 Thuy si 1,4 -10,0 -40,0 Vuong quéc Anh 0,1 -7,7 -56,9 Hoa Ky 2,1 -5,0 -41,4 Euro (17 quốc gia) 0,2 -13,6 -48,7 Dựa vào bảng 1.1 có thé thấy, tỷ lệ tăng trưởng GDP của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sụt giảm trầm trọng vào nửa đầu năm 2020. Việc các nước lần lượt phong tỏa, giãn cách xã hội đã làm giảm khả năng hợp tác, phối hợp quốc tế trong ứng phó với đại dịch. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, COVID-19 cũng đã dẫn đến những biến động sâu rộng trên thị trường hang hóa và tài chính toàn cầu.
Chỉ số chứng khoán của các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU (Liên 19 hiệp châu Âu - European Union), và các quốc gia châu Á liên tục sụt giảm [27]; giá dầu thế giới giảm 26%, xuống mức thấp nhất trong 18 năm qua [28]; nhiều ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó lĩnh vực hàng không chịu thiệt hại rất nghiêm trọng [29]; hoạt động sản xuất và dịch vụ tại nhiều quốc gia cũng bị “tê liệt” hoàn toàn, Nguyên nhân là do các hoạt động thương mại và đầu tư của các nước trên thế giới trở nên khủng hoảng dưới tác động của đại dịch. Giãn cách xã hội ở nhiều quốc gia đã khiến hàng loạt doanh nghiệp phải đóng cửa, gây ra suy giảm giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, kèm theo đó là thu nhập giảm, tiêu dùng giảm và hoạt động xuất, nhập khẩu bị đình trệ. Một số nước đã kiểm soát hiệu quả sự lây lan và thiệt hại của COVID-19 (ví dụ: Úc, New Zealand và Đài Loan), trong khi các nước khác lại phải gánh chịu hậu quả vô cùng nặng nề của đại dịch (ví dụ: Hoa Kỳ, Trung Quốc,. Tuy nhiên, bên cạnh những khủng hoảng về mọi mặt, đại dịch COVID-19 cũng mở ra những cơ hội mới cho các quốc gia biết nắm bắt thời cơ.
Giãn cách xã hội cùng sự đình trệ trong mọi lĩnh vực đã làm cho băng thông internet toàn cầu tăng 35% vào năm 2020, dat mức tăng lớn nhất trong một năm ké từ năm 2013 [31]. Đây chính là động lực dé thế giới thay đổi hoàn toàn, đặc biệt là sự trỗi dậy của nền kinh tế sốŸ trong và sau đại dịch với sự gia tăng của các hoạt động như làm việc và học tập từ xa, y tẾ tỪ Xa, thương mại điện tự,. Tắt cả hoạt động trực tuyến trở nên pho bién hon bao gid hết dưới tác động của đại dịch. Bên cạnh đó, những sự đình trệ do COVID-19 gây ra cũng khiến con người thức tỉnh về một thế giới đang bị tốn thương đo ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu.
Lượng khí thải carbon dioxide và các loại khí nhà kính khác đã giảm 4,6% vào năm 2020. [32] Cơ quan Hang không và Vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) ước tính mức độ ô nhiễm tầng ozone trong tháng 8 Theo “Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam năm 2019”, kinh tế số là toàn bộ hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng số. Hoạt động phát triển kinh tế số là sử dụng công nghệ số cùng dữ liệu đề tạo ra mô hình hợp tác, kinh doanh kiểu mới, phù hợp với xu thế phát triển của công nghệ hiện đại. Nhóm chuyên gia kinh tế số Oxford cho rằng: "Kinh tế số là một nền kinh tế vận hành chủ yêu dựa trên công nghệ sô”, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua internet.
Kinh tế số bao gồm tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, địch vụ; sản xuất, phân phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải, logistic, tài chính ngân hàng.) mà công nghệ số được áp dụng. 20 5 và tháng 6 năm 2020 đã giảm 2%. Con số này tuy không nhiều nhưng mức độ giảm thiểu này tương đương với ít nhất 15 năm áp dụng các chính sách giảm thải tốt nhất được đưa ra bởi Ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu [33]. Khắc phục các vấn đề về ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu là một quá trình dài và khó khăn.
Sự tạm ngưng hầu hết mọi hoạt động xã hội do đại dịch COVID-19 gây ra không thể ngay lập tức giải quyết được những van đề đó. Tuy nhiên, đây chính là cơ hội dé con người nhìn nhận lại các van đề về môi trường đang diễn ra xung quanh, cũng có thé là khoảng thời gian dé con người nỗ lực hơn về một môi trường sống xanh và an toàn, dé từ đó tạo động lực cho những sáng kiến, phát minh có thé giải quyết được các vấn dé đặt ra. Có thé thấy rằng, những thách thức và cơ hội mở ra từ đại dịch COVID-19 chính là động lực to lớn khiến cho hầu hết các quốc gia nhanh chóng tìm cách khôi phục nền kinh tế, xã hội và nắm bat thời cơ, nhanh chóng chuyền đồi nên kinh tế để phù hợp với thời cuộc. Boi cảnh khu vực Đông A Năm 2019, kinh tế khu vực Đông A chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bat ôn, đó là sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ thương mại, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc ngày càng gia tăng [34].
Không những thế, cuối năm 2019, khu vực Đông A no ra như một trung tâm của vùng dịch COVID-19 với số ca dương tinh càng ngày càng tăng cao, khiến khu vực Đông Á trở nên khủng hoảng về mọi mặt. Dai dịch COVID-19 né ra tại Vũ Hán, Trung Quốc — nền kinh tế lớn thứ hai trên thé giới vào cuối tháng 12 năm 2019 đã làm cho nền kinh tế của quốc gia này bị “co lại” lần đầu tiên ké từ những năm 70 của thé kỷ XX. Nếu như tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chỉ đạt 6,1% vào năm 2019 - chạm mức thấp nhất trong vòng 29 năm (1990 - 2019) - thì sự bùng phát bất ngờ của COVID-19 lại tiếp thêm một đòn giáng mạnh vào nền kinh tế nước này, khiến tăng trưởng GDP của Trung Quốc giảm xuống mức thấp ky lục là -6,8% (âm 6,8%) vào Quy 1 năm 2020 [35]. Vì vậy, các quốc gia có quan hệ thương mại chặt chẽ với Trung Quốc trong khu vực đương nhiên cũng bị ảnh hưởng đáng kể.
Không những thé, trong đại dịch COVID-19, các quôc gia chịu tác động nặng nê cũng là các trung tâm của mạng sản xuât toàn câu 21 như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Hầu hết các quốc gia chịu ảnh hưởng của đại dịch đều nằm trong khu vực Đông Á. Khi COVID-19 bùng nd, các biện pháp giãn cách xã hội được thực hiện khiến cho nhiều hoạt động sản xuất, thương mại tạm dừng lại. Điều này làm cho chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt đoạn và ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư, thương mại, từ đó làm suy giảm tăng trưởng nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực.
Dưới tình hình khủng hoảng nghiêm trọng như vậy, việc đưa ra một chính sách dé khôi phục kinh tế và khắc phục hậu quả y tế là một điều tất yếu đối với các quốc gia trong khu vực. Ngoài những tac động tiêu cực, đại dịch COVID-19 cũng mở ra những co hội mới như góp phan đây nhanh quá trình thay đổi cấu trúc trên kinh tế khu vực Đông Á bằng cách thúc đây các công ty hướng tới các dịch vụ trực tuyến. Ví dụ như phát triển thương mại điện tử, robot phục vụ, ngân hàng số,. Phương tiện cho những dịch vụ như vậy phát triển chính là lưu lượng truy cập internet đã tăng lên ở mọi nơi, thậm chí con số này đã đạt mức tăng 31% ở Nhật Bản [3].
Điều này càng khiến các quốc gia day nhanh quá trình chuyển đổi số, lay kinh tế số làm động lực phát triển của kinh tế-xã hội sau đại dịch. Điển hình là tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế kỹ thuật số ở Trung Quốc đã cao gấp hơn ba lần so với tốc độ tăng trưởng GDP và điều này cho thấy vai trò then chốt trong thúc đây phát triển kinh tế của đất nước vào năm 2020 [36]. Chính vì vậy, một chính sách mới nhằm thay đổi cơ cấu phát triển kinh tế trong giai đoạn này là hoàn toàn tất yếu cho các quốc gia trong khu vực Đông Á. Bối cảnh Hàn Quốc 1.
Tình hình kinh té Hàn Quốc trước năm 2020 22 Hình 1. Biéu do thể hiện tỷ lệ tăng trưởng GDP của Hàn Quốc giai đoạn 2011- 2019 (don vị tính: %) (Nguồn: Bank of Korea, 2021) Kinh tế Han Quốc đã có tốc độ tăng trưởng than tốc sau cuộc Chiến tranh Triều Tiên, vươn lên trở thành một trong bốn nền kinh tế lớn nhất khu vực châu Á [1]. Tốc độ tăng trưởng GDP của Hàn Quốc giai đoạn 2011-2019 duy trì tương đối ồn định ở mức 2. Bí quyết tăng trưởng, phát triển nhanh của Hàn Quốc có thé khái quát trên một số nét chính sau: (1) Nguyên tắc "ưu tiên tăng trưởng kinh tế", lấy kinh tế làm động lực để phát triển đất nước.