CHƯƠNG 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Nghèo và vai trò của giảm nghèo bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội 1. Các khái niệm nghiên cứu Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều khái niệm về nghèo, mỗi một quan niệm đưa ra đều dựa trên những nguyên tắc và cách tiếp cận riêng về nghèo. Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác giảm nghèo bền vững.
Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong hoạt động giảm nghèo bền vững cả về phương diện lý luận và thực tiễn. Quan niệm về nghèo ở Việt Nam khá phong phú. Ngày 19 tháng 11 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 59/QĐ-TTg, về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Với tiêu chí về thu nhập, Quyết định quy định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng.
Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. Hộ nghèo khu vực nông thôn là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: 1- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; 2- Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016-2020. Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo.
Biểu hiện ở tình trạng phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Giảm nghèo bền vững “là một hệ thống các giải pháp và công cụ đồng bộ xác định rõ vai trò của Nhà nước, của các tổ chức trong xã hội trong việc phân phối hợp lý các hành động của mình để nâng cao mức sống cho người dân nghèo, tạo cho họ những cơ hội phát triển trong đời sống cộng đồng bằng chính lao động của bản thân họ, vươn lên thoát khỏi cảnh nghèo đói, không làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, không bị nguy cơ tái nghèo đe dọa, không rời vào cảnh tái nghèo đói” Chính sách giảm nghèo bền vững (GNBV) được nhà nước ban hành (chính sách công) do vậy, trước khi đưa ra khái niệm về chính sách GNBV, cần thống nhất cách hiểu chung về chính sách công. Thuật ngữ “chính sách công” cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Trong luận văn, cách tiếp cận về khái niệm chính sách công như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” (Đỗ Phú Hải, 2014). Chính sách GNBV được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước về GNBV bao gồm những nội dung (hợp phần) liên quan mật thiết đến các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa – xã hội, giáo dục, y tế.Chính sách GNBV được thiết kế với nhiều hợp phần quan trọng như: hỗ trợ giáo dục, đào tạo cho người nghèo (i); y tế cho người nghèo (ii); tín dụng ưu đãi đối với người nghèo (iii); hỗ trợ pháp lý nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết pháp luật của người nghèo (iv); xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng nghèo (v).những hợp phần này là những hợp phần chủ yếu của chính sách GNBV nhằm thay đổi căn bản tình trạng đói nghèo của quốc gia hoặc của một địa phương nhất định. Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu: Chính sách GNBV là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng bằng những quyết định, quy định của nhà nước nhằm 8 giải quyết các vấn đề về nghèo. Mục tiêu của chính sách giảm nghèo là tạo cơ hội, hỗ trợ để các hộ nghèo có điều kiện tiếp cận với các nguồn lực để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản để cải thiện cuộc sống và vươn lên thoát nghèo.
Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững là toàn bộ quá trình đưa chính sách vào đời sống xã hội theo một quy trình, thủ tục chặt chẽ và thống nhất nhằm giải quyết vấn đề nghèo đang diễn ra đối với những đối tượng cụ thể trong một phạm vi không gian và thời gian nhất định. Vai trò của giảm nghèo bền vững trong phát triển kinh tế - xã hội Trong quá trình phát triển KT-XH, công tác GNBV thể hiện những vai trò cơ bản sau: Một là, GNBV giúp cho bộ phận dân cư nghèo nhận thức được việc phát triển kinh tế xã hội là mục tiêu phấn đấu của tất cả mọi người thuộc mọi tầng lớp khác nhau. GNBV bằng cách giáo dục, đào tạo, tuyên truyền để người nghèo có được hiểu biết và có kiến thức làm giàu để thoát nghèo đồng thời giáo dục tư tưởng cho người nghèo xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của nhà nước, của cộng đồng, tự mình vươn lên làm giàu cho bản thân. Hai là, GNBV góp phần ổn định kinh tế chính trị, xã hội.
Bộ phận dân cư nghèo thường là những người ít có điều kiện để tiếp cận các dịch vụ cơ bản nên hiểu biết và nhận thức còn hạn chế, dễ tự ti mặc cảm và dễ bị kẻ xấu lợi dụng. GNBV giúp nâng cao trình độ dân trí, cung cấp và hỗ trợ các dịch vụ thiết yếu để người dân hiểu biết chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, giúp người nghèo gần gũi hòa nhập cộng đồng, yên tâm lao động sản xuất và đồng thời chủ động đấu tranh với các phần tử xấu lợi dụng kích động gây mất ổn định chính trị, xã hội. Ba là, trình độ văn hóa và chất lượng nguồn nhân lực là điều kiện quan trọng quyết định đến quá trình phát triển KT-XH. Ở Việt Nam, người nghèo tập trung ở cả thành thị và nông thôn, đồng bằng và miền núi.
Người nghèo thường có trình độ lao động thấp, không đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của thị trường lao động nhất là thời kỳ Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa (CNH-HĐH). GNBV có vai trò đào tạo cho bộ phận dân cư nghèo những kiến thức về khoa học công nghệ nhằm tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn cho quá trình phát triển kinh tế xã hội. Bốn là, GNBV sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng chăm sóc 9 và bảo vệ sức khỏe cho bộ phận dân cư nghèo. Giải quyết ngày một tốt hơn vấn đề việc làm cho người nghèo làm tăng thu nhập và giảm tỷ lệ hộ nghèo trong cộng đồng.
Nâng cao hiệu quả của chính sách GNBV còn là tăng cường công tác, huy động, khai thác nguồn lực tài chính để hỗ trợ người nghèo, giúp cho người nghèo, cộng đồng nghèo có các điều kiện tương ứng để thực hiện các hoạt động KT-XH, góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH của đất nước. GNBV giúp cho việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, nâng cao trình độ tổ chức quản lý trong thực hiện chính sách GNBV, đào tạo nâng cao năng lực cho cộng đồng, hỗ trợ các dịch vụ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật cho người nghèo ở các vùng kém phát triển để họ nhận thức được vai trò cá nhân trong thực hiện GNBV mà chủ động vươn lên thoát nghèo góp phần làm giảm chi phí GNBV cho ngân sách của nhà nước. Năm là, GNBV có vai trò hỗ trợ phát triển sản xuất, nâng cao trình độ sản xuất giúp các hộ nghèo nhất là đồng bào DTTS, xã đặc biệt khó khăn có khả năng tự mình tìm kiếm những biện pháp, cách thức để thực hiện GNBV cho bản thân và gia đình. GNBV góp phần phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu có vai trò quan trọng đối với các xã, thôn đặc biệt khó khăn để tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, văn hóa, tri thức cho người nghèo.
GNBV góp phần đẩy lùi tập quán sản xuất lạc hậu nhỏ lẻ, manh mún, năng suất thấp của hộ nghèo, khuyến khích sản xuất theo trình độ cao góp phần tăng trưởng nông nghiệp, nông thôn nhanh và bền vững để phát triển KT-XH. Đặc điểm nghèo ở Việt Nam và công tác quản lý Nhà nước về giảm nghèo bền vững 1. Đặc điểm nghèo ở Việt Nam Một là, nghèo phổ biến trong những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh: Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo. Thu nhập của người nghèo chủ yếu là từ nông nghiệp.
Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế về lao động, dất đai, vốn. thu nhập của những người nghèo rất bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những đột biến của gia đình và cộng đồng. 10 Mức độ cải thiện thu nhập của người nghèo chậm hơn nhiều so với mức sống chung và đặc biệt so với nhóm có mức sống cao. Sự gia tăng chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất đã tăng lên nhanh chóng từ 6,2 lần năm 1993 lên 9,4-9,5 lần năm 2012 [2] cho thấy tình trạng tụt hậu của người nghèo (trong mối tương quan với người giàu) đang diễn ra khá phổ biến.
Hai là, hộ nghèo tập trung ở các vùng có điều kiện sống khó khăn: Đa số người nghèo sinh sống trong các vùng tài nguyên thiên nhiên rất nghèo nàn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa hoặc ở các vùng do sự biến động của thời tiết (bão, lụt, hạn hán.) khiến cho các điều kiện sinh sống và sản xuất của người dân càng thêm khó khăn. Sự kém phát triển về hạ tầng cơ sở của các vùng nghèo đã làm cho các vùng này càng bị tách biệt với các vùng khác. Nghèo mang tính chất vùng rất rõ rệt. Vùng cao, vùng đồng bào dân tộc có tỷ lệ đói nghèo khá cao.