Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Khái niệm chính sách giảm nghèo bền vững và chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam 1. Các khái niệm liên quan đến chính sách giảm nghèo bền vững - Khái niệm về nghèo Theo Từ điển tiếng Việt, nghèo là ở tình trạng không có hoặc có rất ít những gì thuộc yêu cầu tối thiểu của đời sống vật chất; có rất ít những gì được coi là tối thiểu cần thiết [46]. Về khái niệm nghèo, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội ghi nhận, nghèo là một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng của từng vùng, từng khu vực xét trên mọi phương diện.
- Khái niệm giảm nghèo Do tùy theo cách nhìn nhận và đánh giá về nguồn gốc của nghèo khác nhau nên cũng có nhiều quan niệm về giảm nghèo khác nhau, hiểu một cách chung nhất, giảm nghèo là quá trình làm cho bộ phận dân cư nghèo được nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo, thiếu hụt trong đời sống; được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Có thể hiểu cụ thể hơn, giảm nghèo là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư có mức sống nghèo lên một mức sống cao hơn, tốt hơn. Theo đó, giảm nghèo là quá trình chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều hơn, hướng đến sự đầy đủ hơn các điều kiện lựa chọn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. - Khái niệm giảm nghèo bền vững Giảm nghèo bền vững (GNBV) là một trong những nội dung của quá trình phát triển bền vững.
Bởi vậy, GNBV thật sự cần thiết và có ảnh hưởng 8 Luan van nhiều mặt đối với sự phát triển KTXH. Có thể khái quát sự cần thiết của GNBV trong quá trình phát triển KTXH trên các phương diện như: đóng góp của GNBV với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội; với ổn định chính trị, phát triển xã hội, là điều kiện cho phát triển kinh tế. Về chuẩn nghèo theo quy định hiện hành Theo Quyết định số 59/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Trong đó, quy định cụ thể các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.
Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Với tiêu chí về thu nhập, theo Quyết định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị là 900.000 đồng/người/tháng; chuẩn cận nghèo ở khu vực nông thôn là 1.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị là 1.000 đồng/người/tháng. Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, Quyết định nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ cụ thể: Về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: Tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin.
Quyết định cũng quy định rõ chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện 9 Luan van các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách KTXH khác trong giai đoạn 2016 - 2020. Khái niệm về chính sách về giảm nghèo bền vững Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Căn cứ vào phạm vi, quy mô ảnh hưởng và tính chất của chủ thể hoạch định chính sách có thể chia làm hai loại: chính sách tư và chính sách công. “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu cụ thể và giải pháp, công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định”. Với quan niệm như vậy, giảm nghèo thuộc về lĩnh vực chính sách công.
Có thể hiểu khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam như sau: Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định của Nhà nước nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước. Chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam hiện nay Trong suốt thời gian qua, xóa đói, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và là mục tiêu chương trình quốc gia. Việc tiến tới một đất nước văn minh, phồn thịnh thì tiên quyết là không để xảy ra tình trạng đói nghèo. Nhìn nhận vĩ mô trong công tác xóa đói, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững, vì vậy qua các kỳ đại hội, quan điểm về vấn 10 Luan van đề xóa đói, giảm nghèo và giảm nghèo bền vững từng bước được xác lập và tiếp cận một cách khoa học, toàn diện hơn.
Các quan điểm thay đổi qua các kỳ đại hội như sau: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996) nhấn mạnh: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, không để diễn ra chênh lệch quá đáng về mức sống và trình độ phát triển giữa các vùng, các tầng lớp dân cư”. Đến năm 2001 có sự thay đổi, trong báo cáo chính trị Đại hội lần thứ IX đã xác định: “Khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời ra sức xoá đói giảm nghèo, tạo điều kiện về cơ sở hạ tầng và năng lực sản xuất để các vùng, các cộng đồng đều có thể tự phát triển, tiến tới thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội”. Và đến năm 2011 tại Đại hội lần thứ XI của Đảng có sự đột phá mới, quan niệm về giảm nghèo đã xác định đến việc giảm nghèo bền vững, trong báo cáo chính trị đã nêu: “Thực hiện có hiệu quả hơn chính sách giảm nghèo phù hợp với từng thời kỳ; đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức để bảo đảm giảm nghèo bền vững, nhất là tại các huyện nghèo nhất và các vùng đặc biệt khó khăn”. Đến năm 2016, tại Đại hội lần thứ XII, đã tiếp tục nhấn mạnh: “Đổi mới chính sách giảm nghèo theo hướng tập trung, hiệu quả và tiếp cận phương pháp đo lường nghèo đa chiều nhằm bảo đảm an sinh xã hội cơ bản và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản”.
Có thể nói, quan niệm về giảm nghèo thay đổi theo từng thời điểm, nhằm bắt kịp với tiến trình phát triển chung của thế giới. Đảng ta đã có cách nhìn ngày càng toàn diện hơn và đưa ra những chủ trương, biện pháp thiết thực hơn để xoá đói, giảm nghèo đạt chất lượng, hạn chế phân hoá giàu nghèo trên cơ sở tiến hành đồng bộ các giải pháp phát triển cơ sở hạ tầng gắn liền với phát triển văn hoá - xã hội; chú trọng đẩy mạnh việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tăng 11 Luan van cường trợ giúp với đối tượng yếu thế; tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình KTXH, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Trong gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đã có những giải pháp tương đối đồng bộ, hiệu quả tập trung giải quyết các vấn đề xoá đói, giảm nghèo và hạn chế phân hoá giàu nghèo mang tầm quốc gia được quốc tế ủng hộ và đánh giá cao. Thông qua các chương trình xoá đói giảm nghèo, hàng triệu hộ gia đình, hàng chục triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo; góp phần hạn chế thấp nhất tình trạng phân hoá giàu nghèo.
Các nội dung thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững 1. Quy trình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững Để chính sách GNBV mang lại kết quả và hiệu quả như mong muốn của nhà nước cũng như các đối tượng chính sách thì quá trình tổ chức thực hiện cần phải được thực hiện theo một quy trình khoa học, hợp lý và phù hợp với những điều kiện khách quan. Trong quá trình nghiên cứu tác giả cho rằng, quá trình tổ chức thực hiện chính sách GNBV cần phải được thực hiện theo quy trình 7 bước cụ thể như sau: Bước 1: Tiến hành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách GNBV Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững là quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài, vì thế chúng cần được lập kế hoạch, lên chương trình cụ thể để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện một cách chủ động. Kế hoạch triển khai thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững được xây dựng trước khi đưa chính sách vào cuộc sống.
Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách giảm nghèo bền vững Phổ biến, tuyên truyền chính sách nhằm giúp cho mọi người dân và các đối tượng chính sách tham gia thực thi hiểu rõ hơn về mục đích, yêu cầu của chính sách; về tính đúng đắn của chính sách trong điều kiện nhất định và về tính khả thi của chính sách, để họ tự giác thực hiện theo yêu cầu quản lý của 12 Luan van nhà nước.