CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO HUYỆN ĐÔNG GIANG, TỈNH QUẢNG NAM 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nghèo, nghèo đa chiều, tiêu chí xác định chuẩn nghèo và giảm nghèo bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số a. Khái niệm nghèo Nghèo hiểu theo cách phổ thông là trạng thái đời sống vật chất của con người dưới định mức nhất định nào đó.
Tuy nhiên, ở những góc độ tiếp cận khác nhau, nghèo được định nghĩa không giống nhau, cụ thể: - Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro, không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh”[19]; - Theo Ngân hàng thế giới, “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”[41]; - Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993, “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương” [14]; - Ở phía cạnh chi tiết hơn, Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó: “Một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia”[35].
11 n - Theo Từ điển tiếng việt do Giáo sư Hoàng Phê chủ biên định nghĩa nghèo là: “Ở tình trạng rất ít những gì thuộc về yêu cầu tối thiểu của đời sống vật chất; trái với giàu” [30]; - Trong môi trường xã hội, chính trị và pháp lý Việt Nam, tại Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000 của Việt Nam đã đưa ra các khái niệm nghèo cơ bản thống nhất với khái niệm nghèo đói của ESCAP khi cho rằng nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện. Từ những các tiếp cận trên, trong phạm vi luận văn, tác giả xây dựng khái niệm nghèo như sau: Nghèo là trạng thái đời sống vật chất của con người dưới ngưỡng tiêu chuẩn được xác định bởi nhà nước. Khái niệm nghèo đa chiều Ở Việt Nam, Chính phủ ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững cho mỗi giai đoạn 5 năm trên cơ sở công bố chuẩn nghèo để đo lường sự thay đổi của tình trạng nghèo trong giai đoạn tương ứng. Từ 2015 trở về trước, Việt Nam vẫn sử dụng phương pháp đo lường nghèo đơn chiều theo chuẩn nghèo thu nhập.
Nghĩa là trong việc xác định nghèo chỉ dựa vào duy nhất một tiêu chí thu nhập bình quân của một tháng. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi về tiêu chí xác định chuẩn nghèo của thế giới với tư duy không chỉ cần đến thu nhập, một người được đánh giá không nghèo còn phải dựa trên sự tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản, năm 2014, Quốc hội đã quyết định việc giao Chính phủ xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản để thực hiện từ năm 2016. Trên cơ sở đó, vào năm 2015, CP Việt Nam đã thông qua phương pháp tiếp cận đa chiều để đo lường nghèo đói. Theo đó nghèo đa chiều được đo lường bằng mức độ thiếu hụt tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: Y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; tiếp cận thông tin.
Năm chiều được đo bằng 10 chỉ số gồm: tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Hộ được coi là nghèo đa chiều nếu thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường 12 n mức độ thiếu hụt (trên tổng số 10 chỉ số nói trên) trở lên. Như vậy, có thể thấy: nghèo đa chiều là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người. Nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống.
Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đa chiều ở Việt Nam Qua phân tích khái niệm nghèo và nghèo đa chiều, có thể liên hệ rằng: Tiêu chí xác định chuẩn nghèo ở Việt Nam là những thang giá trị được nhà nước xây dựng và công bố nhằm làm cơ sở xác định nghèo qua từng thời kỳ khác nhau. Như đã trình bày ở phần khái niệm về nghèo đa chiều, từ năm 2015 trở về trước, với quan điểm về nghèo đơn chiều, tiêu chí xác định chuẩn nghèo chỉ dựa trên thu nhập. Trong đó, giai đoạn từ năm 1997 trở về trước đơn vị tính là số kilogam gạo. Từ năm 1998 đến nay, tiêu chuẩn này được xác định bằng đơn vị tiền Việt Nam đồng.
Đối với giai đoạn 2016-2020 vì được đo lường theo chuẩn nghèo đa chiều, do đó ngoài tiêu chí thu nhập như được trình bày tại Bảng 1.2, còn có các tiêu chí về tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ xã hội cơ bản được thể hiện tại Bảng 1. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đa chiều theo thu nhập giai đoạn 2016- 2020 7. Giai đoạn 2016-2020 Vùng nông thôn (hộ nghèo) đồng/người/tháng 700.000 (hộ cận nghèo) đồng/người/tháng 700.000 Vùng thành thị (hộ nghèo) đồng/người/tháng 900.000 (hộ cận nghèo đồng/người/tháng 900. Các tiêu chí xác định chuẩn nghèo đa chiều về mức độ tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Chiều nghèo Chỉ số đo lường Mức độ thiếu hụt Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ 15 1.1 Trình độ giáo dục tuổi sinh từ năm 1986 trở lại không tốt của người lớn 1) Giáo dục nghiệp trung học cơ sở và hiện không đi học.2 Tình trạng đi học Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ tuổi của trẻ em đi học (5 - 14 tuổi) hiện không đi học.
Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng không đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác 2.1 Tiếp cận các dịch định là bị bệnh) chấn thương nặng đến mức vụ y tế phải nằm một chỗ và phải có người chăm 2) Y tế sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường). Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi 2.2 Bảo hiểm y tế trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế. Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố hoặc nhà đơn sơ. Chất lượng nhà ở (Nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà kiên cố, bán 3) Nhà ở kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ).2 Diện tích nhà ở Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ 2 bình quân đầu người gia đình nhỏ hơn 8m 4.1 Nguồn nước sinh Hộ gia đình không được tiếp cận nguồn 4) Điều kiện hoạt nước hợp vệ sinh.
Hố xí/nhà vệ Hộ gia đình không sử dụng hố xí/nhà tiêu sinh hợp vệ sinh.1 Sử dụng dịch vụ Hộ gia đình không có thành viên nào sử viễn thông dụng thuê bao điện thoại và internet. 5) Tiếp cận Hộ gia đình không có tài sản nào trong số thông tin 5.2 Tài sản phục vụ các tài sản: Tivi, đài, máy vi tính; và không tiếp cận thông tin nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn. (Nguồn: Bộ Lao động, thương binh và xã hội năm 2015) Như vậy, với các tiếp cận nghèo đa chiều như hiện nay, tiêu chí xác định chuẩn nghèo được quy định chi tiết như sau: * Hộ nghèo n - Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: 14 n + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
* Hộ cận nghèo - Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. - Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Khái niệm giảm nghèo bền vững cho đồng bào DTTS Giảm nghèo bền vững nói chung là khái niệm dùng để chỉ tổng hợp các biện pháp giảm tình trạng nghèo bằng cách nâng cao thu nhập và mức độ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân và đảm bảo người dân không nghèo trở lại (tái nghèo). Giảm nghèo bền vững cho đồng bào DTTS là một nội dung thuộc mục tiêu giảm nghèo bền vững nói chung.
Tuy nhiên, vì đời sống đồng bào DTTS có những đặc trưng khác với những nhóm đối tượng còn lại, do đó giảm nghèo bền vững cho đồng bào DTTS cũng có những vấn đề riêng. Cụ thể: - Đồng bào DTTS có xuất phát điểm về đời sống kinh tế thấp hơn so với các nhóm đối tượng khác, do đó số lượng người nghèo cao hơn và mức độ nghèo lớn hơn.