Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 1999 - 2011, nền kinh tế Việt Nam chứng kiến những biến động sâu sắc trong chính sách điều hành kinh tế vĩ mô và thương mại quốc tế. Tỷ giá danh nghĩa chính thức giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ (VND/USD) đã điều chỉnh tăng từ mức 13.872 VND/USD vào quý 1 năm 1999 lên đến 20.693 VND/USD vào năm 2011. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu liên tục đạt tốc độ tăng trưởng ấn tượng qua các năm, cán cân thương mại của Việt Nam lại thường xuyên rơi vào tình trạng thâm hụt kéo dài, đỉnh điểm là mức nhập siêu lên tới 12,4 tỷ USD vào năm 2010 (đã loại trừ 2,8 tỷ USD nhập khẩu ròng vàng). Thực trạng này đặt ra vấn đề nghiên cứu cốt lõi: liệu chính sách neo tỷ giá danh nghĩa tương đối cứng nhắc theo đồng USD có khiến đồng nội tệ bị định giá cao trên thực tế, từ đó làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam hay không.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là tính toán chuỗi chỉ số tỷ giá thực hiệu lực (REER) theo quý của Việt Nam, đánh giá tác động định lượng của tỷ giá thực đến cán cân thương mại, đồng thời phân tích độ tin cậy của chỉ số này trong việc xác định mức độ sai lệch giá trị đồng tiền. Phạm vi nghiên cứu bao quát chuỗi số liệu kinh tế qua 52 quý (từ quý 1 năm 1999 đến quý 4 năm 2011) với 10 đối tác thương mại hàng đầu gồm Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đức, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia, Úc và Hồng Kông. Ý nghĩa của nghiên cứu nằm ở việc định lượng mức độ định giá cao của VND (lên tới 25,9% vào năm 2010 so với năm gốc 1999), cung cấp cơ sở thực chứng vững chắc giúp Ngân hàng Nhà nước chuyển đổi cơ chế điều hành tỷ giá linh hoạt, giảm thiểu thâm hụt ngoại thương và kiểm soát lạm phát hiệu quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống các lý thuyết kinh tế quốc tế nền tảng. Thứ nhất là lý thuyết Bộ ba bất khả thi của Mundell - Fleming, chỉ ra rằng một quốc gia chỉ có thể chọn tối đa 2 trong 3 mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá hối đoái cố định và tự do hóa dòng vốn chu chuyển. Thứ hai là mô hình cân bằng đối nội và đối ngoại Swan, nhấn mạnh sự phối hợp giữa điều chỉnh tỷ giá và quản lý mức cầu nội địa để đồng thời đạt trạng thái toàn dụng nhân công, kiểm soát lạm phát và ổn định cán cân vãng lai. Thứ ba là điều kiện Marshall - Lerner và lý thuyết đường cong J, giải thích cơ chế tác động của phá giá tiền tệ: sự cải thiện cán cân thương mại chỉ xảy ra khi tổng độ co giãn theo giá của cầu xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1, với độ trễ thời gian từ 12 đến 24 tháng trước khi phát huy hiệu quả tích cực.

Bên cạnh đó, luận văn ứng dụng mô hình kinh tế mở của Mankiw và lý thuyết tỷ giá thực hiệu lực (REER). Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: tỷ giá hối đoái danh nghĩa (giá cả giao dịch hàng ngày giữa hai đồng tiền), tỷ giá thực song phương (RER - tỷ giá danh nghĩa đã điều chỉnh theo chênh lệch lạm phát giữa hai nước) và tỷ giá thực đa phương (REER - chỉ số đo lường sức mua đối ngoại so với một rổ ngoại tệ có tính đến tỷ trọng thương mại).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn mực từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF - cơ sở dữ liệu IFS), Tổng cục Thống kê Việt Nam (GSO), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank). Dữ liệu bao gồm kim ngạch xuất nhập khẩu, chỉ số giá tiêu dùng CPI (kỳ gốc 2005) và tỷ giá hối đoái danh nghĩa theo tần suất quý trong suốt 13 năm (1999 - 2011).

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 52 quan sát chuỗi thời gian theo quý (từ quý 1 năm 1999 đến quý 4 năm 2011). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích dựa trên quy mô quan hệ mậu dịch, xác định 10 quốc gia và vùng lãnh thổ đối tác chiếm trên 70% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam để đưa vào rổ tiền tệ tính REER. Năm 1999 được chọn làm năm gốc vì đây là thời điểm cán cân thanh toán của Việt Nam tương đối cân bằng sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: tác giả kết hợp phương pháp tính toán chỉ số REER gia quyền thương mại với mô hình hồi quy bình phương bé nhất (OLS) trên phần mềm SPSS. Việc sử dụng REER là bắt buộc vì tỷ giá danh nghĩa không phản ánh được tương quan sức mua khi lạm phát giữa các nước có sự chênh lệch lớn. Phương pháp hồi quy OLS dạng Log-Log giữa tỷ số xuất nhập khẩu (X/M) và REER được lựa chọn nhằm lượng hóa chính xác hệ số co giãn và kiểm định mối quan hệ nhân quả với độ tin cậy thống kê trên 95%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả tính toán REER cho thấy sự phân kỳ rõ rệt giữa tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực. Trong khi tỷ giá danh nghĩa VND/USD tăng bình quân 0,4%/quý giai đoạn 2000 - 2007 và tăng mạnh lên mức 1,8%/quý giai đoạn 2008 - 2011 (tăng gấp 4,5 lần), thì chỉ số REER lại giảm xuống dưới 100 điểm từ quý 2 năm 2008 và duy trì xu hướng giảm liên tục đến quý 4 năm 2011. Điều này đồng nghĩa với việc đồng Việt Nam đã lên giá thực tế xấp xỉ 25,9% so với năm gốc 1999.

Thứ hai, nguyên nhân chính khiến VND tăng giá thực là do chênh lệch lạm phát quá lớn. Trong giai đoạn 2000 - 2010, chỉ số CPI của Việt Nam tăng lũy kế xấp xỉ 123%, trong khi CPI của Mỹ chỉ tăng 26,7% và tỷ giá danh nghĩa VND/USD chỉ điều chỉnh tăng 30,4%. Tốc độ mất giá danh nghĩa thấp hơn nhiều so với mức chênh lệch lạm phát đã làm suy giảm nghiêm trọng sức cạnh tranh về giá của hàng hóa nội địa.

Thứ ba, kết quả ước lượng mô hình hồi quy OLS trên 52 quan sát quý xác nhận tỷ giá thực REER có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê cao đến tỷ số xuất nhập khẩu: $$\log(X/M) = -2{,}0218 + 0{,}942 \cdot \log(\text{REER})$$ Hệ số hồi quy 0,942 (với p-value < 0,05) khẳng định khi REER tăng 1% (tức VND giảm giá thực 1%), tỷ số xuất nhập khẩu sẽ cải thiện tương ứng 0,942%, củng cố thêm bằng chứng thực nghiệm về vai trò trọng yếu của tỷ giá thực đối với cán cân mậu dịch.

Thảo luận kết quả

Diễn biến thực tế của cán cân thương mại Việt Nam phản ánh chính xác quy luật đường cong J. Trong giai đoạn quý 1 năm 1999 đến quý 4 năm 2003, khi VND giảm giá thực khoảng 16,01%, cán cân thương mại ghi nhận nhiều quý thặng dư. Tuy nhiên, từ năm 2004 đến 2011, khi VND chuyển sang xu hướng tăng giá thực, cán cân thương mại đã nghiêng hẳn về trạng thái nhập siêu trầm trọng. Dù Ngân hàng Nhà nước đã tiến hành các đợt phá giá danh nghĩa lớn như 5,4% vào tháng 11 năm 2009 và 9,3% vào tháng 2 năm 2011, cán cân thương mại vẫn cần độ trễ từ 2 đến 3 năm mới có thể phục hồi do quán tính nhập khẩu nguyên liệu sản xuất còn cao.

Chỉ số REER & Tỷ số Xuất/Nhập Khẩu (X/M) qua các giai đoạn:

Giai đoạn 1999 - 2003 (VND giảm giá thực ~16,01%):
REER: [████████████████████] > 100 (Đỉnh: 116,01)
X/M : [██████████████████  ] Thặng dư thương mại nhiều quý

Giai đoạn 2004 - 2007 (VND giảm giá thực thu hẹp):
REER: [███████████████     ] Giảm dần về mốc 100
X/M : [█████████████       ] Cán cân thương mại bắt đầu thâm hụt

Giai đoạn 2008 - 2011 (VND lên giá thực ~25,9%):
REER: [████████            ] < 100 (Định giá cao > 20%)
X/M : [████████            ] Nhập siêu trầm trọng (Đỉnh: 12,4 tỷ USD)

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua biểu đồ tương quan đường kép giữa REER và tỷ số X/M giai đoạn 1999 - 2011, cho thấy hai đường biến thiên đồng pha rõ nét trong dài hạn. Đồng thời, bảng tổng hợp tỷ giá niêm yết tại các ngân hàng thương mại và tỷ giá thị trường tự do phản ánh áp lực đầu cơ rất lớn khi tỷ giá chợ đen từng vượt mức kỷ lục 22.100 VND/USD vào đầu năm 2011. Điều này chứng minh việc can thiệp hành chính và thu hẹp biên độ dao động về +/-1% chỉ mang lại tính ổn định tạm thời nhưng lại bào mòn dự trữ ngoại hối quốc gia.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm cải thiện bền vững cán cân thương mại và nâng cao hiệu quả điều hành tỷ giá, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Chuyển đổi cơ chế neo tỷ giá sang rổ tiền tệ: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cần chấm dứt việc neo tỷ giá cố định đơn lẻ vào đồng USD, chuyển sang neo có kiểm soát vào một rổ gồm 10 đồng tiền đối tác thương mại chủ chốt. Mục tiêu duy trì chỉ số REER dao động quanh mức cân bằng 100 điểm với lộ trình thực hiện từng bước trong giai đoạn 2012 - 2015.
  2. Mở rộng và điều hành linh hoạt biên độ tỷ giá: Ngân hàng Nhà nước cần nới rộng biên độ dao động tỷ giá từ mức +/-1% lên khoảng +/-2% đến +/-3% tùy thuộc vào mức độ biến động của thị trường quốc tế. Việc này giúp giảm áp lực chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và thị trường tự do, đồng thời triệt tiêu tâm lý găm giữ ngoại tệ tại các tổ chức tín dụng.
  3. Nâng cao quy mô dự trữ ngoại hối và hoàn thiện thị trường phái sinh: Ngân hàng Nhà nước phối hợp cùng Bộ Tài chính đặt mục tiêu gia tăng dự trữ ngoại hối đạt mức tối thiểu tương đương 12 đến 16 tuần nhập khẩu (bổ sung từ 3 đến 5 tỷ USD mỗi năm khi thị trường thuận lợi). Song song đó, cần đa dạng hóa các công cụ phòng ngừa rủi ro như hợp đồng kỳ hạn (Forward), hoán đổi (Swap) và quyền chọn (Option) để hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
  4. Phối hợp đồng bộ chính sách tiền tệ và tài khóa: Chính phủ cần kiểm soát lạm phát mục tiêu dưới 7%/năm và kéo giảm thâm hụt ngân sách xuống dưới 5% GDP trong giai đoạn 2012 - 2015. Việc duy trì mặt bằng lãi suất thực dương cho tiền gửi VND sẽ củng cố niềm tin vào đồng nội tệ, hạn chế tình trạng đô la hóa và vàng hóa nền kinh tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn sâu sắc cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính: Sử dụng phương pháp luận tính toán chỉ số REER theo quý và dữ liệu 10 đối tác mậu dịch để xây dựng hệ thống cảnh báo sớm mức độ sai lệch tỷ giá, từ đó đưa ra quyết định can thiệp thị trường ngoại hối chuẩn xác.
  2. Giám đốc tài chính (CFO) và chuyên viên quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Nắm bắt quy luật tác động có độ trễ của tỷ giá thực (12 đến 24 tháng theo đường cong J) để chủ động đàm phán đồng tiền thanh toán, lựa chọn công cụ phái sinh phù hợp nhằm bảo vệ biên lợi nhuận trước các biến động tỷ giá danh nghĩa.
  3. Chuyên viên phân tích kinh tế vĩ mô tại các ngân hàng thương mại và công ty chứng khoán: Khai thác mô hình hồi quy 52 quan sát quý để dự báo cung cầu ngoại tệ, xu hướng dòng vốn FDI, FII và đánh giá thanh khoản hệ thống ngân hàng trong từng chu kỳ điều chỉnh chính sách tiền tệ.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế quốc tế: Sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp ứng dụng lý thuyết kinh tế mở Mundell - Fleming, Swan và mô hình định lượng OLS trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ giá danh nghĩa VND/USD tăng nhưng đồng Việt Nam lại bị coi là tăng giá thực tế?

Trong giai đoạn 2000 - 2010, tỷ giá danh nghĩa VND/USD tăng 30,4%, nhưng chỉ số giá tiêu dùng CPI của Việt Nam lại tăng tới 123%, vượt xa mức lạm phát 26,7% của Mỹ. Do lạm phát trong nước quá cao, giá hàng hóa nội địa đắt hơn tương đối so với quốc tế, khiến chỉ số REER giảm sâu dưới 100 điểm và làm VND tăng giá thực khoảng 25,9%.

Việc phá giá tiền tệ có giúp cải thiện ngay lập tức cán cân thương mại Việt Nam không?

Không. Theo lý thuyết đường cong J và số liệu thực nghiệm qua 52 quý, sau các đợt phá giá như mức 9,3% vào tháng 2 năm 2011, cán cân thương mại thường xấu đi trong ngắn hạn do giá trị hàng nhập khẩu tính bằng nội tệ tăng ngay lập tức. Cán cân chỉ bắt đầu cải thiện sau độ trễ từ 2 đến 3 năm khi khối lượng xuất khẩu tăng trưởng đủ lớn.

Rổ tiền tệ tính REER trong luận văn bao gồm những đồng tiền nào và vì sao?

Rổ tiền tệ gồm 10 đồng tiền: USD (Mỹ), EUR (Đức), JPY (Nhật Bản), CNY (Trung Quốc), KRW (Hàn Quốc), SGD (Singapore), THB (Thái Lan), MYR (Malaysia), AUD (Úc) và HKD (Hồng Kông). Các đối tác này đại diện cho trên 70% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1999 - 2011, đảm bảo tính đại diện cao cho năng lực cạnh tranh ngoại thương đa phương.

Các biện pháp can thiệp hành chính vào thị trường ngoại tệ bộc lộ những hạn chế gì?

Các biện pháp hành chính như siết biên độ tỷ giá hay ép buộc kết hối trong các năm 2009 - 2010 đã khiến tỷ giá tự do vọt lên trên 21.500 đến 22.100 VND/USD, làm trầm trọng thêm tâm lý đầu cơ và găm giữ ngoại tệ. Biện pháp này không giải quyết được gốc rễ mất cân đối cung cầu khi thâm hụt thương mại năm 2010 lên tới 12,4 tỷ USD.

Mô hình hồi quy OLS trong luận văn mang lại kết quả định lượng cụ thể nào?

Mô hình hồi quy OLS dạng hàm Log giữa tỷ số xuất nhập khẩu (X/M) và REER trên 52 quan sát quý cho hệ số góc là 0,942 với p-value nhỏ hơn 0,05. Kết quả này chứng minh rằng khi REER tăng 1% (đồng nội tệ giảm giá thực 1%), tỷ số xuất nhập khẩu của Việt Nam sẽ tăng tương ứng 0,942%.

Kết luận

  • Luận văn đã tính toán thành công chuỗi chỉ số REER theo quý qua 52 quan sát (1999 - 2011), chỉ ra hiện tượng VND bị định giá cao thực tế khoảng 25,9% vào năm 2010.
  • Xác nhận chênh lệch lạm phát trong nước tăng 123% so với mức 26,7% của Mỹ là nguyên nhân cốt lõi làm triệt tiêu hiệu quả của việc điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa tăng 30,4%.
  • Kiểm định thành công mô hình hồi quy OLS khẳng định mối quan hệ đồng biến giữa REER và tỷ số X/M với hệ số co giãn đạt 0,942.
  • Làm rõ sự tồn tại của hiệu ứng đường cong J tại Việt Nam với thời gian trễ kéo dài từ 2 đến 3 năm trước khi các đợt phá giá mang lại thặng dư thương mại.
  • Đề xuất lộ trình điều hành tỷ giá giai đoạn 2012 - 2015 theo cơ chế neo vào rổ 10 ngoại tệ, mở rộng biên độ giao dịch lên +/-2% đến +/-3% và nâng quy mô dự trữ ngoại hối lên 12 đến 16 tuần nhập khẩu.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp một khung phân tích định lượng toàn diện về tỷ giá thực đa phương, khắc phục sự phụ thuộc đơn điệu vào tỷ giá danh nghĩa trong hoạch định chính sách. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2012 trở đi, Ngân hàng Nhà nước và các bộ ngành liên quan cần sớm thể chế hóa chỉ số REER thành công cụ giám sát vĩ mô định kỳ, thúc đẩy thị trường ngoại hối vận hành minh bạch theo nguyên tắc cung cầu để đảm bảo tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế Việt Nam.