Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VĂN HÓA 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về văn hóa Trong đời sống giao tiếp xã hội và học thuật của nhân loại, văn hóa là khái niệm được dùng rất phổ biến, gắn với các hoạt động của con người. Trong khoa học, xã hội và nhân văn, văn hóa là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khác nhau.
Mỗi ngành khoa học, xã hội, nhân loại lại có cách tiếp cận văn hóa riêng, vì thế văn hóa trở thành khái niệm vô cùng đa nghĩa. Trên thực tế, văn hóa có thể được dùng với nghĩa thông thường để chỉ trình độ học vấn, mức độ ứng xử lịch sự của con người, hoặc dùng chỉ tập quán, thói quen của một nhóm người, một cộng đồng. Văn hóa cũng có thể được dùng với nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ văn minh của một giai đoạn lịch sử của dân tộc hay của nhân loại. Văn hóa cũng có thể được dùng để chỉ sự đánh giá phẩm chất con người của những cá nhân và cộng đồng (có văn hoá, thiếu văn hóa…).
Trong lịch sự loài người, thuật ngữ ‘‘văn hóa’’ đã xuất hiện rất sớm. Tại Phương Tây, chữ văn hóa culture - Tiếng Anh, Tiếng Pháp đều viết giống nhau) có nguồn gốc từ chữ Latinh Cultus với nghĩa gốc khởi nguyên là ‘‘gieo trồng’’, ‘‘vun sới’’, trong trồng trọt cây lương thực (nghĩa là chăm sóc cây cối từ gieo hạt, nảy mầm, lên cây, đơm hoa, kết trái). Sau này, chữ culture ‘‘văn hóa’’ được mở rộng dùng trong đời sống xã hội, chỉ sự ‘‘gieo trồng trí tuệ’’ cho con người, giáo dục – đào tạo con người, hình thành phát triển con người và cộng đồng dân tộc [12, tr. Trong lịch sử Phương Đông, quan niệm văn hóa được nói đến nhiều ờ Trung Quốc cổ xưa, thể hiện qua cách chiết tự chữ nghĩa.
Văn hóa là “nhân văn, giáo hóa”, “văn trị giáo hóa”. “Nhân văn, giáo hóa” có nghĩa là “đem cái đẹp của con người” – tức là các giá trị nhân văn làm chuẩn mực để thay đổi con người thoát khỏi tình trạng hoang dã, lạc hậu, kém hiểu biết. Nói cách khác, văn hóa là làm cho người ta trở nên đẹp đẻ - cái đẹp chỉ có ở người. “Văn trị giáo hóa” là lấy văn đức 8 để giáo hóa, đưa con người vào trật tự, kỷ cương, phép tắc, lễ nghĩa mà tổ chức, quản lý, cai trị họ, lấy “văn trị” đối lập với “vũ trị”[12, tr.
Cuối thế kỷ XX, UNESCO đưa ra quan niệm: “văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo” của “các cá nhân và các cộng đồng” trong quá khứ và trong hiện tại. Qua thời gian, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”, đồng thời vào thế kỷ XXI, năm 2002 UNESCO lại tiếp tục bổ sung định nghĩa về văn hóa như sau: “văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ giá trị truyền thống và đức tin…”[13, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh (1943) đã từng đưa ra định nghĩa khá đầy đủ về văn hóa, đó là: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự tồn tại” [12, tr. Với việc đưa ra định nghĩa khái niệm văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp chúng ta hiểu văn hóa cụ thể và đầy đủ hơn. Suy cho cùng, mọi hoạt động của con người trước hết đều “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống”, những hoạt động sống đó trải qua thực tiễn và thời gian được lặp đi, lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy, lưu truyền từ đời này qua đời khác thành kho tàng quý giá mang bản sắc riêng của mỗi cộng đồng, góp lại mà thành di sản văn hóa của toàn nhân loại. Khái niệm về chính sách Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính 9 sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa. Theo Trần Đình Thanh (2016), “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể để đạt được mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế”. Franc Ellis cho rằng: “Chính sách được xác định như là đường lối hành động mà Chính phủ lựa chọn đối với mọi lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả mục tiêu mà Chính phủ tìm kiếm và lựa chọn các phương pháp để theo đuổi các mục tiêu đó” [20, tr.
Theo Vũ Cao Đàm (2011): “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo ra sự ưu đãi một hoặc một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. Theo đó thì khái niệm “hệ thống xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát. Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường. Chính sách là chủ trương, định hướng cơ bản được cơ quan có thẩm quyền xây dựng trên cơ sở đường lối, chiến lược của Nhà nước trong từng lĩnh vực cụ thể hoặc trong quy hoạch phát triển tổng thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
Những quan điểm này đề cập đến phạm trù chính sách theo những khía cạnh khác nhau và theo những mục đích khác nhau. Tuy nhiên, khi đề cập đến phạm trù chính sách cần phải làm rõ: Chính sách là gì? Ai là người tạo ra nó? Nó tác động đến ai, đến cái gì? Từ yêu cầu trên có thể hiểu rằng, chính sách là công cụ, là biện pháp can thiệp của Nhà nước vào một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế theo những mục tiêu nhất định, với những điều kiện thực hiện nhất định và trong một thời gian xác định [8]. Trong tài liệu của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2011) về hoạch định và phân tích chính sách công đã đưa nội dung khái niệm chính sách và chính sách công như sau: “chính sách là những hành vi ứng xử của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định”. 10 Chính sách công “là những quy định về sự ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng” [14, tr.
Võ Khánh Vinh (2012) đã đưa ra khái niệm chính sách công: “chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách, nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [31]. Khái niệm về chính sách văn hóa Mọi quốc gia, dù thành văn hay bất thành văn, đều có chính sách văn hóa của mình. Nhìn chung, trong quá trình phát triển, chính sách văn hóa ban đầu thường là một bộ phận trong chính sách chung của quốc gia, sau đó, tùy thuộc vào sự phát triển của quan niệm về văn hóa và sức mạnh của văn hóa, chính sách văn hóa đã trở thành một bộ phận độc lập, tất nhiên là vẫn nằm trong hệ thống chính sách của quốc gia đó. Sự lớn mạnh của bộ phận chính sách này đã đòi hỏi một sự nghiên cứu về nó.
Nửa cuối thế kỷ XX đã chứng kiến sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý văn hóa trên thế giới về vấn đề này. Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO), chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động, các cách thực hành, các phương pháp quản lý hành chính và phương pháp sử dụng ngân sách của Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật [33]. UNESCO vào năm 1967 đã đưa ra một quan niệm về chính sách văn hóa như: “Chính sách văn hóa là một tổng thể những thực hành xã hội hữu thức và có suy tính kỹ về những can thiệp hay không can thiệp của Nhà nước vào các hoạt động văn hóa nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhân dân, bằng cách sử dụng tối ưu tất cả những nguồn vật chất và nhân lực mà một xã hội nào đó sắp đặt vào một thời điểm thích hợp”[10]. Chính sách văn hóa là những tư tưởng chỉ đạo, những nguyên tắc và định hướng cơ bản trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa của một cộng đồng, quốc gia, dân tộc, khu vực lãnh thổ hoặc trong phạm vi quốc tế trong từng giai đoạn 11 nhất định.
Thực hiện chính sách văn hóa là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách công. Trong thực tiễn có nhiều loại chính sách khác nhau, xuất phát từ tầm quan trọng của văn hóa do đó chính sách văn hóa là một trong những chính sách quan trọng. Chính sách này nhằm phát triển văn hóa với tư cách là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát triển xã hội và có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mỗi quốc gia. Các chính sách văn hóa đều là các thực hành nhà nước dựa trên các nguồn lực về tài chính, vật lực, nhân lực trong những điều kiện có thể có của thời điểm đó.
Các tổ chức văn hóa dựa vào các nguồn lực này để triển khai các hoạt động thực thi chính sách.