phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách công nghệ xử lý xung đột giữa bệnh viện và cộng đồng dân cƣ sống xung quanh Chƣơng 2: Thực trạng chính sách công nghệ xử lý xung đột môi trƣờng giữa bệnh viện Bạch Mai và cộng đồng dân cƣ sống xung quanh Chƣơng 3: Đề xuất chính sách công nghệ xử lý xung đột giữa bệnh viện và cộng đồng dân cƣ sống xung quanh. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ XỬ LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƢỜNG GIỮA BỆNH VIỆN VÀ CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ 1. Hệ khái niệm công cụ 1. Khái niệm công nghệ Hiện nay, khái niệm về công nghệ có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Dunning (năm 1983) “Công nghệ là nguồn lực bao gồm kiến thức đƣợc áp dụng để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiếp thị cho những sản phẩm và dịch vụ đang có và tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới”. Một khái niệm khác của Sharif (trong Dự án của ESCAP: Technology Atlas Project - năm 1986): “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ƣu và tập hợp các yếu tố bao gồm môi trƣờng vật chất, xã hội và văn hóa”, gồm 4 dạng cơ bản: - Dạng vật thể: vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh (dạng này gọi là Technoware); - Dạng con ngƣời: kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm (dạng này gọi là Humanware); - Dạng ghi chép: bí quyết, quy trình , phƣơng pháp, dữ kiện thích hợp… đƣợc mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu…(dạng này gọi là Inforware); - Dạng thiết chế tổ chức: dịch vụ, phƣơng tiện truyền bá, công ty tƣ vấn, cơ cấu quản lý, cơ cấu pháp luật…(dạng này gọi là Orgaware). Theo UNCTAD (1972), khái niệm đó là: “Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và nhƣ vậy, nó đƣợc mua và bán trên thị trƣờng nhƣ một hàng hóa đƣợc thể hiện một trong các dạng sau: - Tƣ liệu sản xuất và đôi khi là các sản phẩm trung gian, đƣợc mua và bán trên thị trƣờng, đặc biệt là gắn với các quyết định đầu tƣ; 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nhân lực, thƣờng là nhân lực có trình độ và đôi khi là nhân lực có trình độ cao, chuyên sâu, với khả năng sử dụng đúng các thiết bị, kỹ thuật và làm chủ đƣợc bộ máy giải quyết vấn đề và sản xuất thông tin; - Thông tin, dù đó là thông tin kỹ thuật hay thƣơng mại, đƣợc đƣa ra trên thị trƣờng hay đƣợc giữ bí mật nhƣ một phần của hoạt động độc quyền. Theo đó, công nghệ là tƣ liệu sản xuất, nhân lực có trình độ, thông tin và có mục tiêu để làm đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất.
Ngân hàng thế giới (WB - 1985) định nghĩa: “Công nghệ là phƣơng pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: Thông tin về phƣơng pháp; Phƣơng tiện, công cụ sử dụng phƣơng pháp để thực hiện việc chuyển hóa; Sự hiểu biết phƣơng pháp hoạt động nhƣ thế nào và tại sao”. Nhƣ vậy, công nghệ là công cụ, thông tin, sự hiểu biết và có mục tiêu chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành sản phẩm. Luật Khoa học và Công nghệ của Việt Nam (năm 2013) định nghĩa: Công nghệ là tập hợp các phƣơng pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phƣơng tiện dùng để biến các nguồn lực thành sản phẩm [28, tr.7] Tóm lại, công nghệ có nghĩa là sự sáng tạo, là tập hợp kiến thức, là quy trình, thiết bị, phƣơng pháp để chuyển hóa nguồn lực thành sản phẩm, có thể đƣợc mua bán nhƣ một dạng hàng hóa. Công nghệ đƣợc phân chia theo các hƣớng tiếp cận khác nhau tùy vào lĩnh vực nghiên cứu và mục đích sử dụng.
Khái niệm công nghệ môi trƣờng là tổng hợp các biện pháp vật lý, hóa học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất thải phát sinh ra từ trong quá trình sản xuất và hoạt động của con ngƣời. Công nghệ môi trƣờng bao gồm các tri thức dƣới dạng nguyên lý, quy trình và các thiết bị kỹ thuật nhằm triển khai thực hiện nguyên lý và quy trình đó. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm chính sách Hiện nay có nhiều định nghĩa về chính sách.
Anderson đƣa ra định nghĩa chính sách nhƣ sau: "Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm". Trong tập Bài giảng về Khoa học chính sách, PGS. Vũ Cao Đàm đƣa ra định nghĩa: “Chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đƣa ra, trong đó tạo ra sự ƣu đãi một nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của nhóm này, định hƣớng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ƣu tiên nào đó trong chiến lƣợc phát triển của một hệ thống xã hội” [1, tr. Ý nghĩa của cụm từ “Hệ thống xã hội” ở đây đƣợc hiểu theo một ý nghĩa khái quát.
Đó có thể là một quốc gia, một khu vực hành chính tỉnh/thành phố, một tổ chức, doanh nghiệp. Một số cách tiếp cận về chính sách như: - Chính sách là một tập hợp biện pháp, có thể là một biện pháp kích thích kinh tế, một biện pháp động viên tinh thần, một mệnh lệnh hành chính hoặc một ƣu đãi đối với các cá nhân hoặc các nhóm xã hội. - Chính sách là một tập hợp biện pháp đƣợc thể chế hóa dƣới dạng các đạo luật, pháp lệnh, sắc lệnh; các văn bản dƣới luật nhƣ nghị định, thông tƣ, chỉ thị của chính phủ; hoặc các văn bản quy định nội bộ của một tổ chức, chẳng hạn nhƣ một doanh nghiệp. - Chính sách phải tác động vào động cơ hoạt động của các cá nhân và nhóm xã hội.
Đây phải là nhóm đóng vai trò động lực trong việc thực hiện một mục tiêu nào đó, dựa vào những thang bậc giá trị khác nhau về nhu cầu mà tạo động cơ cho đối tƣợng chính sách. - Chính sách phải hƣớng động cơ của các cá nhân và nhóm xã hội nói trên vào một mục tiêu nào đó của hệ thống xã hội nhƣ mục tiêu kinh doanh 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của doanh nghiệp, mục tiêu phát triển của một địa phƣơng hay mục tiêu bảo vệ đất nƣớc của một quốc gia. Khi nói đến chính sách, nhiều ngƣời thƣờng nghĩ đến các chính sách do Nhà nƣớc ban hành chứ không chú ý đến các chính sách của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp cũng cần có chính sách của mình nhằm tạo ra những biện pháp kích thích sản xuất, nâng cao lợi nhuận, phát huy sự sáng tạo của ngƣời lao động….
Có thể phân biệt chính sách của một quốc gia với một doanh nghiệp theo chủ thể hoạch định chính sách. Chính sách của quốc gia là dựa trên sự hình thành và phát triển của một đất nƣớc nhƣ chính sách kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng, đối nội, đối ngoại…, góp phần làm quốc gia đó thịnh vƣợng, phát triển hoặc suy thoái, lạc hậu. Còn chính sách của doanh nghiệp giúp cho doanh nghiệp đó phát triển hoặc cũng có thể làm cho doanh nghiệp đó thua lỗ, phá sản nếu là một chính sách sai, không khả thi. Mỗi doanh nghiệp là một chủ thể, tự quyết định chính sách nhằm đạt mục tiêu kinh doanh của mình.
Cơ sở lý luận về môi trƣờng và xung đột môi trƣờng 1. Khái niệm môi trường Có những khái niệm khác nhau về môi trƣờng. Theo định nghĩa của Chƣơng trình Môi trƣờng Liên hiệp quốc (United Nations Environment Programme - UNEP) thì “môi trƣờng là tập hợp các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học, kinh tế - xã hội, tác động lên từng cá nhân hay cả cộng đồng”. Theo Bách khoa toàn thƣ Wikipedia “Môi trƣờng là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống nào đó.
Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hƣớng và tình trạng tồn tại của nó. Môi trƣờng có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tập hợp con. Môi trƣờng của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tƣơng tác với hệ thống đó”. Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2014 định nghĩa: “Môi trƣờng bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất, nhân tạo bao quanh con ngƣời có ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và sinh vật”.
Có thể phân chia môi trường thành ba hệ thống: Môi trường tự nhiên: Môi trƣờng tự nhiên gồm các nhân tố thiên nhiên nhƣ vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con ngƣời, nhƣng cũng ít nhiều chịu tác động của con ngƣời. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất, nƣớc. , cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con ngƣời các loại tài nguyên khoáng sản cần thiết, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải. Môi trường xã hội: Là tổng thể các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời.
Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định. ở các cấp khác nhau nhƣ Liên hiệp quốc, Hiệp hội các quốc gia, dân tộc, tỉnh, huyện, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ chức đoàn thể,. Môi trƣờng xã hội tạo ra cho con ngƣời hoạt động, sinh sống, làm việc theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể có lợi cho sự phát triển. Môi trƣờng xã hội xoay quanh con ngƣời.
Môi trường nhân tạo: bao gồm tất cả các nhân tố do con ngƣời tạo nên, làm thành những giá trị tiện nghi trong cuộc sống nhƣ ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, tiện nghi dân dụng, các khu đô thị, công viên. Xét một cách tổng thể về mối quan hệ và biện chứng thì ba loại môi trƣờng trên luôn tồn tại cùng nhau, xen kẽ lẫn nhau và có mối quan hệ tƣơng tác, chặt chẽ với nhau. Nhƣ vậy, môi trƣờng hiểu theo nghĩa rộng là tập hợp các nhân tố tự nhiên và xã hội cần cho sinh sống, cho nhu cầu sản xuất con ngƣời, gồm tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nƣớc, quan hệ xã hội. ; môi trƣờng theo nghĩa hẹp thì không đề cập tới yếu tố tài nguyên thiên nhiên, 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.