Thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý tại tỉnh Thái Nguyên

Tìm hiểu chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo tại Thái Nguyên, các giải pháp thúc đẩy vai trò nữ giới trong các vị trí quản lý và điều hành.

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

251
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo

Chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo và quản lý là những biện pháp chiến l略lược nhằm đảm bảo nữ giới có cơ hội bình đẳng trong các vị trí lãnh đạo tại cơ quan hành chính nhà nước. Tại tỉnh Thái Nguyên, việc thực hiện chính sách bình đẳng giới không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là nhu cầu cấp thiết của sự phát triển bền vững. Bình đẳng giới trong lãnh đạo giúp tăng cường hiệu quả quản lý, nâng cao chất lượng quyết định công khai và tạo môi trường công bằng cho toàn bộ nhân lực. Các nghiên cứu cho thấy rằng các cơ quan có sự tham gia của nữ giới ở các vị trí lãnh đạo thường đạt hiệu suất cao hơn và có độ tin cậy xã hội tốt hơn.

1.1. Định nghĩa bình đẳng giới trong cơ quan hành chính

Bình đẳng giới là trạng thái mà cả nam và nữ có cơ hội, quyền lợi và trách nhiệm như nhau trong xã hội. Trong lãnh đạo quản lý cơ quan hành chính nhà nước, điều này có nghĩa là nữ giới được tiếp cận bình đẳng với các vị trí quyết định, từ lãnh đạo cấp phòng đến lãnh đạo cấp tỉnh. Chính sách bình đẳng giới tại Thái Nguyên xác định các mục tiêu cụ thể về tỷ lệ nữ giới trong các vị trí lãnh đạo.

1.2. Ý nghĩa thực tiễn của bình đẳng giới tại Thái Nguyên

Thực hiện chính sách bình đẳng giới tại Thái Nguyên có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao chất lượng governance và tăng cường phản ứng với nhu cầu cộng đồng. Nữ giới trong lãnh đạo cơ quan hành chính mang những quan điểm độc đáo, giúp đa dạng hóa các quyết định chính sách. Điều này tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của tỉnh Thái Nguyên.

II. Thực trạng thực hiện chính sách bình đẳng giới tại Thái Nguyên

Theo các nghiên cứu từ Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, thực trạng thực hiện chính sách bình đẳng giới tại Thái Nguyên cho thấy những tiến bộ nhưng cũng còn nhiều thách thức. Từ năm 2016 đến 2022, tỷ lệ nữ giới trong vị trí lãnh đạo quản lý ở các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh có sự tăng lên, tuy nhiên vẫn chưa đạt mục tiêu đề ra. Quy trình thực hiện chính sách còn chưa hoàn toàn minh bạch và hiệu quả. Nhiều cơ quan chưa có kế hoạch cụ thể để nâng cao tỷ lệ nữ giới trong lãnh đạo, và việc đánh giá kết quả vẫn còn sơ sài. Các yếu tố như truyền thống, nhận thức xã hội và nguồn lực hạn chế là những rào cản chính.

2.1. Tỷ lệ nữ giới trong lãnh đạo cơ quan hành chính

Hiện nay, tỷ lệ nữ giới trong vị trí lãnh đạo ở các cơ quan hành chính nhà nước Thái Nguyên vẫn còn thấp. Cụ thể, nữ giới chiếm khoảng 20-25% trong các vị trí lãnh đạo cấp phòng, nhưng chỉ chiếm khoảng 10-15% ở các vị trí lãnh đạo cấp cao. Sự chênh lệch này phản ánh rõ ràng những khó khăn trong việc thúc đẩy nữ giới lên các vị trí quyết định cao hơn.

2.2. Những thách thức trong thực hiện chính sách

Chính sách bình đẳng giới tại Thái Nguyên đối mặt với nhiều thách thức. Ngoài các yếu tố truyền thống và nhận thức xã hội, còn có vấn đề về năng lực thực hiện từ phía các cơ quan và sự hỗ trợ tài chính không đủ. Độ hiểu biết về chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo quản lý ở một số cơ quan vẫn còn hạn chế.

III. Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách bình đẳng giới

Việc thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo tại Thái Nguyên bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tác động khác nhau. Chất lượng chính sách là yếu tố quan trọng, bao gồm tính rõ ràng, khả thi và sự phù hợp với bối cảnh địa phương. Năng lực của chủ thể thực hiện chính sách - tức là các cán bộ quản lý nhân sự và lãnh đạo cơ quan - cũng đóng vai trò then chốt. Đối tượng thụ hưởng chính sách (nữ giới) cần được trang bị kiến thức, kỹ năng và cơ hội phát triển nghề nghiệp. Môi trường thực hiện chính sách bao gồm hỗ trợ từ lãnh đạo cấp cao, cơ chế giám sát và đánh giá, cũng như sự huy động của toàn xã hội. Sự kết hợp hài hòa của các yếu tố này sẽ quyết định hiệu quả thực hiện chính sách bình đẳng giới tại Thái Nguyên.

3.1. Vai trò của chất lượng chính sách

Chất lượng chính sách bình đẳng giới ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thực hiện. Chính sách cần có các mục tiêu cụ thể, các biện pháp hành động rõ ràng và tiêu chí đánh giá khách quan. Tại Thái Nguyên, một số chính sách vẫn còn mang tính chung chung, thiếu các biện pháp cụ thể để thúc đẩy nữ giới vào vị trí lãnh đạo.

3.2. Vai trò của môi trường và hỗ trợ xã hội

Môi trường thực hiện chính sách bao gồm sự hỗ trợ từ các tổ chức chính trị, các cơ quan pháp luật và xã hội dân sự. Khi môi trường thuận lợi, nữ giới sẽ có nhiều cơ hội phát triển và thể hiện khả năng lãnh đạo. Thái Nguyên cần tạo môi trường công bằng, không phân biệt giới tính trong tuyển dụng và bổ nhiệm.

IV. Giải pháp thúc đẩy thực hiện chính sách bình đẳng giới tại Thái Nguyên

Để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo tại Thái Nguyên, cần áp dụng nhiều giải pháp toàn diện. Thứ nhất, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và các chính sách bình đẳng giới sao cho cụ thể, khả thi và có cơ chế giám sát chặt chẽ. Thứ hai, tăng cường đào tạo, tập huấn để nâng cao năng lực lãnh đạo của nữ giới và thay đổi nhận thức của toàn bộ cán bộ. Thứ ba, xây dựng cơ chế khuyến khích, bao gồm các thước đo tích cực như định hạn mục tiêu tỷ lệ nữ giới trong vị trí lãnh đạo. Thứ tư, tăng cường giám sát, đánh giá kết quả thực hiện chính sách một cách định kỳ. Cuối cùng, phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức xã hội và cộng đồng để tạo sự đồng thuận xã hội về bình đẳng giới.

4.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và chính sách

Thái Nguyên cần xây dựng hoặc sửa đổi các chính sách bình đẳng giới để làm cho chúng cụ thể hơn và có tính thực thi mạnh mẽ. Các chính sách này nên định rõ mục tiêu về tỷ lệ nữ giới, các bước cụ thể để đạt mục tiêu, cơ chế giám sát và hình phạt khi không đạt yêu cầu. Điều này sẽ tạo lực đẩy cho các cơ quan chính phủ địa phương.

4.2. Đào tạo nâng cao năng lực và thay đổi nhận thức

Cần tiến hành các khóa đào tạo lãnh đạo dành cho nữ giới để chuẩn bị họ cho các vị trí lãnh đạo cao hơn. Đồng thời, cần tập huấn cho toàn bộ cán bộ về tầm quan trọng của bình đẳng giới và cách loại bỏ những định kiến giới tính trong quản lý nhân sựlãnh đạo.

28/12/2025
Thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo quản lý ở cơ quan hành chính nhà nước tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu lý luận về thực hiện chính sách công và chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở cơ quan hành chính nhà nước 1. Về chính sách công “Chính sách” hay “Chính sách công” là hai danh từ khó phân biệt rõ ràng về chủ thể ban hành.

Khi nói về chính sách hay chính sách công, người ta thường nghĩ tới chủ thể ban hành là Nhà nước. Dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, trong 7 thập kỷ kể từ năm 1951 với công trình khoa học đầu tiên về chính sách The Policy Sciences của Daniel Lerner và Harold D.Lasswell, sau này là Thomas R. Quan niệm về “chính sách công” có các tác giả William Jenkin (1978), William N. Quan niệm chính sách kinh tế - xã hội có các tác giả Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền [24].

Từ cách tiếp cận chính sách như một công cụ để quản lý, điều hành hoặc điều tiết thị trường…, các tác giả Lê Chi Mai [95], Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa (2013, [60]), Cao Quốc Hoàng, Nguyễn Đỗ Kiên [73] tiếp tục bổ sung, phát triển quan niệm về chính sách công. Về thực hiện chính sách công * Vai trò của thực hiện chính sách trong quy trình chính sách Thực hiện chính sách là bước không thể thiếu trong quy trình chính sách công nhằm đưa chính sách vào thực tiễn quản lý. Harold Lasswell [233] đã đưa ra 13 các giai đoạn của quy trình chính sách với 7 bước bao gồm: Tri thức, Thúc đẩy, Kê đơn, Chỉ ra, Áp dụng, Hoàn thành và Thẩm định, trong đó, Áp dụng và Hoàn thành là bước thực hiện chính sách. Jone và Charles O.

[200] đưa ra quy trình với 10 bước: Nhận thức, Xác nhận, Tổ chức, Đại diện, Lên khung, Hợp pháp hóa, Áp dụng/Quản trị, Phản hồi, Đánh giá/Thẩm định, Giải quyết vấn đề/Kết thúc. Nội dung thực hiện chính sách nằm rải rác ở nhiều khâu trong quy trình này và có sự lặp lại. Sau này, May và Wildavsky [238] đề xuất thực hiện chính sách công là một bước trong quy trình chính sách 6 bước: Thiết lập nghị trình; Phân tích vấn đề; Hệ thống cung cấp dịch vụ, Thực hiện, Đánh giá, Kết thúc. Cao Quốc Hoàng và cộng sự [73] đề xuất 4 bước: Phát hiện vấn đề, Xây dựng chính sách, Thực hiện chính sách; Đánh giá chính sách.

Đoàn Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Ngọc Huyền [53, tr.49] đề xuất 5 bước: Hoạch định chính sách; Thể chế hóa chính sách; Tổ chức các hình thức cơ cấu; Chỉ đạo thực hiện; Kiểm tra điều chỉnh. Tuy nhiên, các bước này có thể tiến hành song song và cũng có những hoạt động không xuất hiện trong quá trình của một chính sách nào đó. Với cách tiếp cận tổng quát, May và cộng sự [238, tr.13] chia quy trình chính sách theo khung phân tích tương tự nhau, bao gồm “Khởi đầu, Thực hiện, Kết thúc và có thể dẫn đến những Khởi đầu mới”. Đồng quan điểm này, Lê Chi Mai [95] và nhiều tác giả khác chia quy trình chính sách thành 3 giai đoạn: Hoạch định chính sách, Thực hiện chính sách và Đánh giá chính sách.

Đây là cách tiếp cận phổ biến về quy trình chính sách, trong đó thực hiện chính sách là một hoặc một số bước trong quy trình chính sách, về bản chất thực hiện chính sách là sự áp dụng nội dung chính sách vào thực tiễn. Cách tiếp cận này được chấp nhận rộng rãi nhưng nhược điểm của cách tiếp cận quy trình là các nghiên cứu tập trung vào từng giai đoạn. Do đó, bỏ qua toàn bộ quá trình và khiến các nhà nghiên cứu dễ mắc phải sai lầm khi xem xét hoặc mô tả quá trình như một tập hợp các hoạt động riêng biệt thay vì tập hợp và liên kết với nhau [16], [260]. Thực hiện chính sách còn có sự liên kết, tương tác theo những chiều cạnh khác nhau với các bước trong quy trình chính sách.

Hơn nữa, thực hiện chính sách 14 còn chứa đựng trong đó những nội dung đặc trưng cần được nghiên cứu một cách độc lập tương đối so với các hoạt động khác như hoạch định chính sách hay đánh giá chính sách. Như vậy, thực hiện chính sách công là một bước không thể thiếu trong quy trình chính sách. Bên cạnh đó, thực hiện chính sách mang những nội dung, quy trình độc lập tương đối so với các bước khác nhau trong quy trình chính sách như hoạch định và đánh giá chính sách. Một số mô hình thực hiện chính sách công: Thực hiện chính sách tiếp cận từ trên xuống: xác định chủ thể giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện chính sách là chủ thể chính trị, cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức như nghiên cứu của Pressman và Wildavsky [251], Bowen [196], Van Meter và Van Horn [266], Sabatier và Mazmanian [259], Hogwood và Gunn [227], Thomas Dye [208], O’Toole [249].

Thực hiện chính sách tiếp cận theo mô hình từ dưới lên đề cập đến việc cần có sự tham gia của người dân vào quá trình thực hiện chính sách cũng như tính đến kỳ vọng và thất vọng của người dân khi thực hiện các chính sách xã hội [234], [257]). Rothstein [257] khẳng định “không có sự tin tưởng của công dân” vào các tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện các chính sách công, việc thực hiện có khả năng thất bại. Những bất lợi của chính quyền khi thực hiện chính sách mà không có sự tham gia của người dân cũng được một số tác giả nhấn mạnh [223, pg. Ở cách tiếp cận này vai trò của người dân với vai trò là chủ thể thực hiện chính sách khi ủng hộ hoặc không ủng hộ một chính sách sẽ quyết định sự thành công hay thất bại của chính sách đó.

* Về quy trình thực hiện chính sách Có những cách tiếp cận khác nhau về quy trình thực hiện chính sách, nhưng có thể chỉ ra 2 cách tiếp cận cơ bản: Thứ nhất, tiếp cận quy trình thực hiện chính sách với 3 bước cơ bản như Nguyễn Hữu Hải [62]; O. Thứ hai, tiếp cận quy trình khi chia nhỏ từng bước trong quy trình thực hiện với các tên gọi cụ thể như nghiên cứu của Đặng Khắc Ánh và cộng sự [7]); Lê Chi Mai [95]; Cao Quốc Hoàng, Nguyễn Đỗ Kiên [73], Lê Văn Hòa [71]… Tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, chủ thể sẽ có các bước thực hiện chính sách với tên gọi khác nhau, nhưng tựu chung lại việc tiếp cận chia nhỏ từng bước cụ thể trong quy trình thực hiện chính sách sẽ có cơ sở để thực hiện, giám sát, đánh giá từng mảng công việc trong quá trình thực hiện. Ví dụ, khi nghiên cứu thực hiện chính sách với quản lý theo kết quả, Lê Văn Hòa [71, tr. 71]) chỉ ra quy trình quản lý theo kết quả thực hiện chính sách công ở Việt Nam với 6 hoạt động và mối quan hệ qua lại giữa chúng (với những mũi tên 2 chiều) của Lập kế hoạch, Lập ngân sách, Thực hiện, Theo dõi, Đánh giá và Xem xét lại kết quả.

Như vậy, có hai cách tiếp cận quy trình thực hiện chính sách với 03 bước chính là: chuẩn bị, thực hiện và tổng kết thực hiện chính sách, hoặc chia nhỏ các bước đó theo mong muốn của nhà quản lý. Về chính sách bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý ở cơ quan hành chính nhà nước * Bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý Simone De Beauvoir (1908 - 1986) người sáng lập thuyết Nữ quyền hiện sinh, một bộ phận của học thuyết Nữ quyền hiện đại, là một trong những người đầu tiên đề cập tới thuật ngữ “vị trí xã hội” để so sánh với thuật ngữ “vai trò xã hội” của phụ nữ từ góc độ triết học và xã hội học (dẫn theo [120]). Tony Atkinson [161, tr. 279] nhìn nhận tác hại trầm trọng nhất khi có sự cộng hưởng của hai loại bất bình đẳng: bất bình đẳng về cơ hội và bất bình đẳng về kết quả, nhưng theo ông khái niệm bình đẳng về cơ hội không thuyết phục, ông thích sự bình đẳng về kết quả hơn.

Đây là một luận điểm không mới khi xem xét đến quá trình thực hiện một chính sách, nhưng khá mới khi xem xét đến chính sách 16 bình đẳng giới trong chính trị nói chung và trong CQHCNN nói riêng, khi xem xét đến cơ hội và cả kết quả của chính sách bình đẳng giới ở phạm vi quốc gia. Mác - Ăngghen và Lê nin [26], Hồ Chí Minh [100], [101], [102], Amartya Sen [130, tr. 27], Nguyễn Văn Bảy [15], Trần Thị Quốc Khánh [84] đề cập đến bình đẳng giới trong CQHCNN, vai trò của phụ nữ trong chính trị xuất phát từ quá trình hoạt động thực tiễn, quá trình lao động, cải tạo tự nhiên và xã hội. Mác - Ăngghen khẳng định “Một sự bình đẳng thực sự giữa phụ nữ và nam giới chỉ có thể trở thành hiện thực khi đã thủ tiêu được chế độ bóc lột của tư bản đối với cả hai giới và khi công việc nội trợ riêng trong gia đình đã trở thành một nền công nghiệp xã hội”.

Lênin sau này, đã có sự phát triển học thuyết của Mác với sự suất hiện của quan điểm nữ quyền (thuyết nữ quyền mácxit, nữ quyền xã hội chủ nghĩa) coi giới là vấn đề xã hội cơ bản, gắn với mọi hoạt động xã hội trong đó có chính trị. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “không có phụ nữ, riêng nam giới không thể làm nổi cách mạng” [101, tr340]. Nhà cách mạng Nguyễn Văn Bảy [15] đã xác định “nam nữ bình quyền” và chỉ ra vì sao nam - nữ phải bình quyền và nguyên nhân tại sao nam nữ không bình quyền phần nhiều là do tư tưởng nho giáo đã ăn sâu, đàn ông không chịu thừa nhận vai trò của phụ nữ, phụ nữ cũng ko thấy mình bị áp bức và hơn hết nó là cái “tập quen cái thói tôi mọi”. Ông khẳng định định kiến đã ăn sâu khi cho rằng đàn ông làm việc để có kết quả tốt đẹp và đàn bà lấy việc cơm nước là bổn phận.

Nguyễn Văn Bảy cũng đưa ra những bằng chứng về nữ giới khi tham gia chính trị trong những giai đoạn trước và chỉ ra: vậy, gái kém gì trai, khác gì trai hay chỉ vì định kiến “khôn ngoan cũng thế đàn bà, dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông”. Cùng quan điểm với Nguyễn Văn Bảy, khi so sánh vị trị của đàn ông với phụ nữ, Amartya Sen quan niệm “có nhiều bằng chứng cho thấy rằng khi phụ nữ có những cơ hội vốn thuộc lãnh địa của nam giới, thì họ cũng thành công không kém nam giới trong việc sử dụng những thuận lợi mà nam giới đã nhiều thế kỷ nay cố giữ cho mình” (dẫn theo [163]).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ