Chương 1, khóa luận tìm hiểu về những vấn đề chung có liên quan trực tiếp đến đề tài như tiểu sử, sự nghiệp văn học của Kenzaburo Oe và Kazuo Ishiguro. Trong đó, vị trí của hai tiểu thuyết Một nỗi đau riêng và Cảnh đồi mờ xám trong đời văn của hai tác giả được đặc biệt chú trọng. Đồng thời, chúng tôi còn trình bày sơ lược về bối cảnh đất nước Nhật Bản thời kỳ hậu chiến. Đây là một trong những tiền đề quan trọng khi nghiên cứu về chiến tranh hạt nhân và con người hậu chiến trong hai tác phẩm.
Trong Chương 2, khóa luận tiến hành phân tích những tác động của chiến tranh hạt nhân đối với đất nước và con người Nhật Bản những năm sau khi chiến tranh kết thúc. Từ đó, làm rõ những điểm gặp gỡ và những nét riêng biệt trong cách nhìn nhận của hai tiểu thuyết gia về mối quan hệ giữa bi kịch cá nhân và nỗi niềm dân tộc thời kỳ hậu chiến. Trong Chương 3, khóa luận tiếp tục củng cố và phát triển vấn đề cá nhân và dân tộc khi xem xét chúng từ góc nhìn bản sắc. Đây là một hướng đi tương đối mới và mang tính thể nghiệm của riêng bản thân người viết.
Nội dung được triển khai trong chương này giữ vai trò khắc sâu và nâng cao những điều đã được phân tích trước đó, góp phần mang đến những giá trị độc đáo cho đối tượng nghiên cứu. Ở phần Kết luận, chúng tôi tổng kết ngắn gọn những kết quả đã đạt được trong quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, khóa luận còn có mục tài liệu tham khảo để ghi lại nguồn của những tài liệu bằng tiếng Việt, tiếng Anh và từ internet đã được trích dẫn trong luận văn. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.
Bối cảnh Nhật Bản thời kỳ hậu chiến 1. Lịch sử Cột mốc Nhật Bản chính thức bước vào thời kỳ hậu chiến có thể được đánh dấu bằng việc đại diện của chính phủ nước này ký vào bản tuyên bố đầu hàng tại Tokyo vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tuy nhiên trên thực tế, hàng loạt các sự kiện liên tiếp trong tháng 8 năm 1945 đã cho thấy sự lung lay và suy yếu của giới cầm quyền cũng như dự báo một kết cục tất yếu: Nhật Bản hoàn toàn bại trận. Ngày 8 tháng 8, Nhật phải đón nhận lời tuyên chiến đầy thách thức từ Nga.
Ngay sau đó, quả bom nguyên tử thứ hai với tên gọi Fat Man được Mỹ tiếp tục thả xuống Nagasaki vào ngày 9 tháng 8, sau khi quả Little Boy vài ngày trước (6 tháng 8) đã san bằng Hiroshima. Ngày 14 tháng 8, Nhật hoàng buộc phải thừa nhận và tuyên bố trên báo đài về việc “đầu hàng vô điều kiện”. Dĩ nhiên, hai quả bom nguyên tử không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến hành động đầu hàng và chấp thuận mọi thiệt thòi về phía mình của Nhật Bản. Bởi sau đó, thế lực cầm quyền khi ấy là giới quân phiệt vẫn có những động thái cho thấy sự phản kháng quyết liệt đến mức cố chấp, thậm chí liều mạng của họ.
Dẫu vậy, hai quả bom ấy ít nhiều đã có những tác động đến chiến thuật quân sự. Song, nghiêm trọng hơn thế, chúng không chỉ để lại những thiệt hại lớn về mặt vật chất mà còn hằn sâu trong tâm tưởng của những người dân vô tội tại quốc gia này một nỗi đau khó có thể chữa lành về mặt tinh thần. Hậu quả đó đã được ghi lại trong những trang sử thời hậu chiến với đầy những vết tích đau thương, mất mát trên nhiều phương diện. Về kinh tế, mọi mặt của lĩnh vực này đều cho thấy sự sụt giảm trầm trọng.
Tỉ trọng công nghiệp thậm chí không đạt đến mức trung bình so với những năm trước chiến tranh. Nguyên nhân của vấn đề này xuất phát từ sự thiếu thốn về cả nguyên liệu lẫn lực lượng sản xuất khi các mỏ than gần như cạn kiệt, các máy móc lại bị phá hủy hoàn toàn. Ngành nông nghiệp cũng không có dấu hiệu khởi sắc hơn là bao khi gặp những vấn đề tương tự về nhân lực, nhiên liệu. Hệ quả tất yếu của việc này là thiếu hụt lương thực để cung cấp cho người dân và tình trạng thất nghiệp.
Cùng với 12 nạn lạm phát dẫn đến đồng yên bị mất giá, hai vấn đề trên là những mối quan ngại đáng bận tâm nhất của Nhật Bản lúc bấy giờ. Theo thống kê của cơ quan ổn định kinh tế sau chiến tranh tại Nhật, “tổng thiệt hại về vật chất lên tới 64,3 tỉ yên, bằng hai lần tổng thu nhập quốc dân năm tài chính 1948 – 1949. Như vậy là toàn bộ của cải tích lũy được trong mười năm (1935 – 1945) đã bị tiêu hủy hoàn toàn. Sản lượng công nghiệp năm 1946 giảm sút đến mức chưa bằng 1/3 tổng sản lượng năm 1930 và chỉ bằng 1/7 mức sản lượng năm 1941.
Nền kinh tế nông nghiệp của Nhật Bản cũng bị khủng hoảng do thiếu lực lượng lao động, thiết bị sản xuất và phân bón. Lương thực bị thiếu hụt nghiêm trọng” (Lê Văn Sang, Lưu Ngọc Trinh, 1991, 84). Mặt khác, dù là người ra đi hay may mắn sống sót sau thảm họa, người dân Nhật Bản khi ấy đều phải chịu đựng những gánh nặng về vật chất lẫn tinh thần. Cũng theo điều tra của cơ quan ổn định kinh tế sau chiến tranh, “những thiệt hại về người cũng vô cùng to lớn.
Số người tử trận hoặc do bệnh tật mà chết ở mặt trận lên tới khoảng 1.000 trong lục quân và 410.000 người trong hải quân. Các cuộc oanh tạc đã làm cho 300.000 người chết, đưa tổng số người chết, bị thương và bị mất tích lên tới 2,53 triệu. Nếu tính cả những người chết, bị thương và mất tích ở nước ngoài thì con số này lên tới gần 3 triệu” (Lê Văn Sang, Lưu Ngọc Trinh, 1991, 84). Có thể thấy rằng, có bao nhiêu người chết, bị thương và mất tích là bấy nhiêu gia đình phải mất đi người thân để rồi sống trong cảnh khốn khổ, tang thương.
Song, không chỉ dừng lại ở đó, chưa nguôi ngoai nỗi đau mất mát, họ lại phải đứng trước nguy cơ kiệt quệ về thể chất vì không có cơm ăn, áo mặc. Kiếp sống lầm lũi mà chính người Nhật đã từng gọi những con người trên đất nước mình khi ấy là “kiếp củ hành”. Bởi lẽ, những người bị mất nhà cửa do sức tàn phá của bom nguyên tử buộc phải trở về nơi hoang tàn, đổ nát ấy để lục lọi những đồ vật còn sót lại giữa đống ngổn ngang với hi vọng có thể mang chúng đi đổi lấy chút thức ăn. Tài sản của họ vốn đã bị san bằng gần hết, nay lại ngày một cạn kiệt.
Đứng trước tình hình đó, Nhật Bản đã có những biện pháp cải cách toàn diện trên mọi mặt từ chính trị, xã hội cho đến kinh tế, giáo dục. Tuy nhiên, công cuộc khôi phục đất nước sau chiến tranh không phải dễ dàng có được thành công trong một sớm một chiều, đồng thời lại đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa nhiều yếu tố. Trong 13 khoảng những năm đầu từ 1946 đến 1951, bên cạnh việc phải chịu đựng những hệ quả thảm hại mà chiến tranh để lại như vừa trình bày ở trên, Nhật Bản còn phải chấp nhận sự bảo hộ (trên thực tế là chiếm đóng) của Mỹ – tình trạng chưa bao giờ tồn tại trong lịch sử xứ sở hoa anh đào từ thời lập quốc. Song, nếu suy xét một cách kỹ lưỡng, mối quan hệ giữa Mỹ – Nhật trong thời điểm ấy là một sự hợp tác mà cả đôi bên cùng có lợi.
Ngay từ bản thảo tài liệu Chính sách ban đầu của Mỹ đối với Nhật sau khi đầu hàng ngày 29 tháng 8 năm 1945, Mỹ đã thể hiện rõ đường lối của mình trong xuyên suốt thời kỳ chiếm đóng là buộc “người Nhật phải từ bỏ cái đế chế của họ, sức mạnh quân sự của họ phải bị hủy diệt hoàn toàn, họ phải đền bù cho đất nước mà họ đã cướp bóc tàn phá, nhưng phải cho họ có cơ hội hồi sinh về phương diện kinh tế, phải hướng dẫn và viện trợ cho họ để kiến thiết lại xứ sở theo chiều hướng dân chủ và hòa bình” (Reischauer, E. Không phải ngẫu nhiên mà Mỹ lại thực hiện một chính sách có phần tương đối nhân nhượng với Nhật như thế. Bởi lẽ, họ đã sớm nhận ra vị trí và vai trò hỗ trợ, đồng minh không thể thiếu của Nhật trên con đường thực hiện chiến lược toàn cầu hóa của mình. Có thể thấy, nếu người Mỹ có sự khôn ngoan thì người Nhật lại có được sự linh hoạt.
Họ biết tận dụng “Thiên thời – Địa lợi – Nhân hòa” mà quốc gia mình có được khi ấy một cách rất hiệu quả. Thứ nhất, về thiên thời, trong lịch sử khu vực nói riêng và thế giới nói chung những năm 1949 và 1950 lần lượt chứng kiến sự ra đời của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và sự khởi phát của cuộc chiến tranh Triều Tiên. Chính sự xuất hiện của những sự kiện này lại càng làm cho Mỹ có thêm cơ sở vững chắc để tin vào “sức mạnh kỹ nghệ và quân sự của Nhật Bản là một hậu thuẫn đáng kể” (Vĩnh Sính, 1990, 258) cho họ trong hành trình từng bước tiến đến ngôi vị thống trị khu vực Thái Bình Dương. Thứ hai, về địa lợi, Nhật Bản sẽ là căn cứ quân sự hàng đầu mở ra con đường thuận lợi để tiến về phía Đông các nước Liên Xô, Triều Tiên và Trung Quốc hay thậm chí là cả Đông Bắc Á, Đông Nam Á sau này.
Thế mạnh ấy ngay lập tức đã được phát huy trong thời gian chiến tranh Triều Tiên diễn ra, “Nhật Bản không chỉ là căn cứ quân sự mà còn là nước cung cấp nguồn hậu cần quan trọng cho quân đội Mỹ” (Nguyễn Quốc Hùng, 2007, 338). Thứ ba, về nhân hòa, “người Nhật cũng tỏ ra có cả thiện chí lớn lao lẫn tư lợi trong khi ẩn nhẫn chấp nhận sự bảo hộ. Thay vì 14 chống lại sự giúp đỡ không mời mà đến này, phần đông người Nhật tìm cách lợi dụng nó bằng cách hợp tác và cố sức làm tròn phần việc của mình” (Reischauer, E. Đây có lẽ cũng chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất, thậm chí mang tính quyết định dẫn đến những bước đầu của sự phục hồi thành công tại Nhật Bản thời kỳ hậu chiến.
Vì không đủ lương thực, mỗi công dân Nhật Bản ngày trước chỉ được cung cấp lượng thức ăn có giá trị dinh dưỡng bằng phân nửa tiêu chuẩn của một người bình thường. Tuy nhiên, “mặt trời đã mọc trở lại trên đất nước này”.