CHƯƠNG 1: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI 1.1 Lý luận chung về văn hoá đối ngoại 1.1 Khái niệm * Văn hóa Văn hóa là một phạm trù đa nguyên vô cùng phức tạp và luôn vận động, biến đổi theo sự phát triển của nhân loại. Đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu luận bàn về khái niệm hay định nghĩa về văn hóa, nhưng các học giả, nhà nghiên cứu về văn hóa trong nước cũng như trên thế giới vẫn chưa thống nhất được một khái niệm chung nhất. Năm 1964 hai nhà nhân học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã thống kê được 257 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Trong cuốn sách Triết học văn hóa, M.
Kagan tổng hợp được hơn 70 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Năm 2008, trong một thống kế không chính thức của Bộ Ngoại giao đã cho thấy trên thế giới có khoảng 500 định nghĩa khác nhau về văn hóa [17], hiện nay số lượng khái niệm về văn hóa ngày càng tăng thêm, khó có thể thống kê đầy đủ. Trong khuôn khổ và phạm vi nghiên cứu, Luận văn đã rút ra những nội dung cơ bản nhất về văn hóa từ những định nghĩa có sẵn, xem xét và đánh giá các ảnh hưởng, tác động và chi phối của văn hóa trong quan hệ quốc tế, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, phân tích và làm rõ mục tiêu chính của Luận văn là văn hóa đối ngoại trong quan hệ quốc tế đương đại. Văn hóa theo nghĩa hẹp là những khái niệm theo một lĩnh vực nào đó mà nó được gắn với chữ văn hóa (trong ngôn ngữ Việt Nam) và những từ được gắn với từ “văn hóa” sẽ chiếm vị trí chính yếu trong khái niệm đó.
Ví dụ khái niệm “văn hóa tư tưởng” là khái niệm gắn với thể chế chính trị và công tác lý luận; Khái niệm “văn hóa giao tiếp” nói đến mối quan hệ ứng xử giữa người với người; Khái niệm “văn hóa nghệ thuật” hay “văn học nghệ thuật” là khái niệm văn hóa gắn với việc sáng 10 tạo, hưởng thụ và phê bình các chuyên ngành văn hóa nghệ thuật như âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh…; Khái niệm “địa văn hóa” nói đến điều kiện địa lý khí hậu trong một không gian nhất định ảnh hưởng đến một nền văn hóa nào đó. Có điều chắc chắn là trong thời đại này, mọi tổ chức nhà nước, công ty (kể cả xuyên quốc gia), tổ chức phi chính phủ (NGOs) đều nhận thức rõ rằng mọi chính sách đều liên quan đến văn hóa, bởi văn hóa vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển mọi xã hội văn minh, phát triển văn hóa có liên quan đến tiến bộ xã hội, mà bản chất của tiến bộ xã hội tức là phát triển con người [39, tr. Văn hóa theo nghĩa rộng nhất là khái niệm văn hóa bao gồm tất cả những sản phẩm vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra và mang tính giá trị. Theo khái niệm này, văn hóa bao gồm tinh thần và vật chất, cả kinh tế và xã hội.
Có lẽ đây là những khái niệm theo nghĩa rộng nhất về văn hóa. Năm 1942, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm khá sâu sắc về văn hóa, được coi là khái niệm về văn hóa theo nghĩa rộng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [57, tr.
Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định văn hóa là sản phẩm của loài người, là toàn bộ giá trị vật chất và giá tinh thần, được con người sáng tạo ra và phát triển trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, trong xu hướng vươn đến cái tiến bộ, cái nhân văn, cái đẹp và văn minh của xã hội. Văn hóa thể hiện trình độ phát triển của con người và của xã hội. Tuy nhiên không phải tất cả những sản phẩm do con người sáng tạo ra đều là văn hóa, chỉ những 11 sản phẩm chứa đựng giá trị (là cái có ích cho con người và hướng tới chân, thiện, mỹ) được xem là văn hóa. Năm 1982, tại Hội nghị quốc tế về văn hóa tổ chức tại Mexico, tổ chức UNESCO đã đưa ra định nghĩa: “Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách đặc trưng của một xã hội hay một nhóm xã hội.
Văn hóa không chỉ bao gồm văn học, nghệ thuật mà còn cả lối sống, các hình thức cùng chung sống, hệ thống các giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” [109]. Đây là định nghĩa được giới chuyên môn cũng như cộng đồng quốc tế thừa nhận là có tính phổ quát cao. Tháng 11/2001, trong Tuyên bố toàn cầu về Đa dạng văn hóa, UNESCO khẳng định lại: “Văn hóa là một tổng hợp các đặc điểm tinh thần, thể chất, tri thức và tình cảm đặc trưng cho một xã hội hoặc một nhóm xã hội, bao hàm không chỉ nghệ thuật và văn học mà còn cả lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng. Những đặc trưng của các yếu tố cấu thành đó giúp ta phân biệt được một xã hội (hoặc một nhóm xã hội) với các xã hội (hoặc nhóm xã hội) khác” [110].
Với định nghĩa này, UNESCO chỉ ra bản chất của văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần của một cộng đồng, do con người sáng tạo ra, đồng thời nhấn mạnh vai trò của văn hóa trong việc giúp một xã hội khẳng định sự hiện diện của mình trên thế giới và đảm bảo sự tồn tại của xã hội đó theo dòng thời gian. Quan điểm về văn hóa của Hồ Chí Minh so với quan điểm hiện đại của UNESCO thì có nhiều điểm tương đồng về hình thức và nội hàm. Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa đã thể hiện đầy đủ bản chất văn hóa trong lịch sử 12 phát triển của loài người. Để thống nhất cách hiểu về văn hóa, tác giả sử dụng định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm nền tảng chính để phát triển những luận điểm phục vụ cho nghiên cứu của luận văn, đồng thời sử dụng định nghĩa của UNESCO về văn hóa trong Tuyên bố toàn cầu về Đa dạng văn hóa để bổ trợ cho những phân tích của luận văn.
* Văn hóa đối ngoại Trải qua những thăng trầm của lịch sử, văn hóa đang dần chiếm lĩnh vị trí quan trọng trong xã hội, trở thành mục tiêu và động lực thúc đẩy xã hội phát triển, trở thành yếu tố nội sinh cơ bản, chủ chốt nhất cấu thành sức mạnh mềm của quốc gia. Với ưu thế nổi bật hơn so với chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại như dễ dàng vượt qua sự khác biệt chính trị, tư tưởng, xây dựng lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau, văn hóa đối ngoại trở thành một bộ phận hữu cơ trong hoạt động đối ngoại của một quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế và chính trị, đồng thời đặt dưới sự chi phối của đường lối đối ngoại. Trong thời đại ngày nay, văn hóa đã khẳng định vị trí then chốt, đóng vai trò là cầu nối gắn kết các dân tộc trên thế giới, là mục tiêu và động lực phát triển, là nền tảng gìn giữ và bảo vệ hòa bình, là nhân tố để thúc đẩy các lĩnh vực khác cùng phát triển. Một số ít quốc gia đã khai thác và phát huy hiệu quả bản sắc văn hóa của mình, tạo ra sức mạnh trong mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Yếu tố văn hóa ngày càng được chú trọng trong hoạch định và triển khai thực hiện chính sách đối ngoại. Văn hóa được xem là phương thức và công cụ quan trọng để đạt được những mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại. Các giá trị văn hóa dân tộc dần trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho hoạt động ngoại giao, bổ trợ cho hoạt động ngoại giao trong quan hệ với các đối tác để thực hiện hiệu quả và thắng lợi các mục tiêu chính trị, kinh tế và văn hóa trong quan hệ quốc tế. Cho tới ngày nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về văn hóa đối ngoại.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu của Đại học St. Peterburg (Liên bang Nga), 13 khái niệm “văn hóa đối ngoại” mới được đưa vào sử dụng trong một số văn bản chính thức của các nước như Nga, Đức, Pháp, Italy, Tây Ban Nha, Áo… và trong một số công trình nghiên cứu về chính trị và ngoại giao trên thế giới vào đầu thế kỷ XXI [93] và vẫn còn nhiều tranh cãi xung quanh nội hàm của khái niệm này. Từ trước đến nay, cụm từ vẫn được sử dụng nhiều là “giao lưu văn hóa quốc tế” hay “hợp tác quốc tế về văn hóa”. Về bản chất, “giao lưu văn hóa quốc tế” hay “hợp tác quốc tế về văn hóa” của một quốc gia là việc tổ chức, triển khai thực hiện các hoạt động hợp tác, giao lưu về văn hóa với một quốc gia khác trên cơ sở những thỏa thuận, nhất trí giữa hai bên và có đi có lại.
Còn “văn hóa đối ngoại” được hiểu là tổng hợp các hoạt động mà một quốc gia sử dụng trong chính sách, chiến lược, sách lược đối ngoại của mình, trong đó “yếu tố văn hóa là nòng cốt nhằm đạt những mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại, tạo hình ảnh tốt đẹp về đất nước, quảng bá văn hóa và ngôn ngữ của mình trên thế giới” [53, tr. Nói khát quát hơn, so với “giao lưu văn hóa quốc tế” hay “hợp tác quốc tế về văn hóa”, “văn hóa đối ngoại” bao hàm một phạm vi rộng hơn, mang tính chủ trương, định hướng, chính sách và cả hành động của một quốc gia trong thúc đẩy, truyền bá, xuất khẩu văn hóa và các sản phẩm văn hóa của mình ra thế giới, cũng như trong quản lý các hoạt động văn hóa mang yếu tố nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia đó.