CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT KHÁCH DU LỊCH QUỐC TẾ ĐẾN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU 1. Cơ sở lý luận về thu hút khách du lịch quốc tế 1. Khái niệm du lịch Mặc dù du lịch là một ngành dịch vụ ra đời từ rất lâu, phát triển với tốc độ nhanh chóng và là chủ đề trong nhiều công trình nghiên cứu ở mỗi quốc gia; song đến nay, khái niệm “du lịch” chưa có tính thống nhất trên thế giới và ở Việt Nam. Khái niệm “du lịch” được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau như Giáo sư, Tiến sĩ Berneker – chuyên gia hàng đầu trên thế giới về du lịch đã từng nhận xét: “Đối với du lịch, có bao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa.” Năm 1942, hai giáo sư, tiến sĩ được xem là những học giả đặt nền móng cho lý thuyết về du lịch là Hunziker và Krapf đã định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”.
Trong Đại hội lần thứ 5 của Hiệp hội Quốc tế những Nhà nghiên cứu Khoa học về du lịch, khái niệm “du lịch” của Hunziker và Krapf được chấp nhận làm cơ sở cho môn khoa học du lịch. Tuy nhiên, khái niệm này chưa đề cập đến yếu tố thời gian rời khỏi phạm vi đó (không phải là nơi cư trú thường xuyên) bao lâu thì được xem là đi du lịch. Đến năm 1992, Mill và Morris đã khái quát về du lịch dưới hai góc độ không gian và thời gian: “Du lịch là một hoạt động xảy ra khi con người vượt ra khỏi biên giới quốc gia của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ nhằm mục đích giải trí và lưu trú tại đó ít nhất 24 giờ nhưng không quá 01 năm”. Điểm mới của định nghĩa này là xác định được thời gian ra khỏi phạm vi biên giới để được xem là đi du lịch.
Năm 1995, theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), du lịch được hiểu là “bao gồm tất cả các hoạt động di chuyển và lưu trú của những người du hành tại một nơi bên ngoài môi trường sống định cư, trong khoảng thời gian liên tục nhưng không quá 1 năm; nhằm mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm 12 hoặc trong mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền.” (UNWTO, 1995) Ở Việt Nam, khái niệm “du lịch” lần đầu tiên được định nghĩa trong Khoản 1, Điều 4, Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định. Trong định nghĩa này, phạm vi thời gian được xem là đi du lịch chưa giới hạn cụ thể. Đến ngày 19/6/2017, khái niệm “du lịch” được cập nhật trong Khoản 1, Điều 3, Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 thành “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 1 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Định nghĩa của Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 tương đồng với UNWTO.
Có thể thấy, các định nghĩa “du lịch” kể trên hướng đến chủ yếu là các hoạt động của khách du lịch (du hành, tạm trú, tham quan, khám phá, trải nghiệm, nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn). Các khái niệm chưa xét đến hoạt động của các doanh nghiệp giữ vai trò trung gian, tổ chức du lịch và sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Tức là, chỉ bàn đến hoạt động của khách du lịch, không bàn đến hoạt động kinh doanh du lịch. Như vậy, từ tất cả các góc nhìn tiêu biểu trên, dựa vào định nghĩa “du lịch” của UNWTO và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017, tác giả khái quát về du lịch trong đề tài này như sau: Du lịch là sự di chuyển của con người đến một nơi khác không phải là nơi thường trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn chứ không phải vì mục đích định cư hoặc kiếm tiền, trong thời gian liên tục không quá 1 năm.
Các loại hình du lịch Loại hình du lịch được định nghĩa “là một tập hợp các sản phẩm du lịch có đặc điểm giống nhau hoặc vì chúng thỏa mãn các nhu cầu, động cơ du lịch tương tự 13 nhau, hoặc được bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức như nhau, hoặc chúng được xếp chung theo một mức giá bán. Trong đó, “sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” (Luật Du lịch Việt Nam, 2017). Việc phân loại du lịch theo nhóm dựa trên các tiêu chí cơ bản dưới đây: a) Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi: Du lịch quốc tế và du lịch nội địa - Du lịch quốc tế: loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến nằm ở lãnh thổ của hai quốc gia khác nhau. Khách du lịch sẽ đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi họ đến du lịch.
- Du lịch nội địa: hình thức du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách du lịch nằm trong lãnh thổ của một quốc gia. b) Căn cứ vào mục đích của chuyến đi: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, du lịch nghỉ dưỡng - chữa bệnh, du lịch vui chơi giải trí, du lịch thể thao, du lịch hành hương tôn giáo, du lịch nghiên cứu học tập, du lịch hội nghị (MICE), du lịch thăm viếng… - Du lịch sinh thái: loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, với bản sắc văn hoá địa phương, có cộng đồng dân cư tham gia, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường. - Du lịch văn hóa: loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở khai thác giá trị văn hóa, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh giá trị văn hóa mới của nhân loại. - Du lịch cộng đồng: loại hình du lịch được phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa của cộng đồng, do cộng đồng dân cư quản lý, tổ chức khai thác và hưởng lợi.
- Du lịch nghỉ dưỡng - chữa bệnh: động cơ để du khách đi du lịch nhằm mục đích nghỉ ngơi, chữa bệnh và phục hồi sức khỏe (về thể chất và tinh thần). - Du lịch vui chơi giải trí: mục đích của chuyến đi là để vui chơi, giải trí, thư giãn, giảm áp lực và phục hồi tinh thần của khách du lịch. - Du lịch thể thao: khách du lịch tham gia trực tiếp vào các hoạt động thể thao 14 (leo núi, săn bắn, câu cá,…) hoặc xem các hoạt động thể thao được tổ chức tại nơi đến du lịch (đi du lịch để xem các cuộc thi thể thao quốc tế, thế vận hội Olympic). - Du lịch hành hương tôn giáo: loại hình du lịch diễn ra các hoạt động khai thác giá trị văn hóa phi vật thể, nhận thức của con người về tín ngưỡng, tôn giáo, yếu tố tâm linh, nhằm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng đặc biệt của những người theo những tôn giáo khác nhau.
- Du lịch nghiên cứu học tập: loại hình du lịch kết hợp giữa việc tham quan và học tập, học đi đôi với hành, thông qua quá trình du lịch con người sẽ được thỏa mãn không chỉ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí mà còn được phát triển khả năng nhận thức thực tế, tích lũy thêm kiến thức, nâng cao kỹ năng sống. - Du lịch MICE: loại hình du lịch kết hợp với công vụ, gắn liền với buổi hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện hoặc cơ hội kinh doanh tại điểm du lịch. - Du lịch thăm viếng: loại hình du lịch kết hợp với mục đích thăm hỏi người thân, bạn bè hoặc tham dự đám tiệc tại nơi họ đến du lịch. c) Căn cứ vào vị trí địa lý của điểm du lịch: Du lịch miền biển, du lịch miền núi, du lịch đô thị, du lịch thôn quê.
d) Căn cứ theo phương tiện giao thông được sử dụng: Du lịch bằng xe đạp, du lịch bằng ô tô, du lịch bằng tàu hoả, du lịch bằng tàu thuỷ, du lịch bằng máy bay. e) Căn cứ theo cơ sở lưu trú được sử dụng: Du lịch ở khách sạn, du lịch ở nhà trọ, du lịch ở lều trại, du lịch ở làng du lịch. f) Căn cứ theo độ dài chuyến đi: Du lịch ngắn ngày (kéo dài từ 1 – 6 ngày) và du lịch dài ngày (kéo dài từ 1 tuần trở lên). g) Căn cứ theo phương thức hợp đồng: Du lịch trọn gói và du lịch từng phần.
h) Căn cứ theo hình thức tổ chức chuyến đi: Du lịch tập thể, du lịch cá nhân, du lịch gia đình. Khái niệm và đặc điểm của du lịch quốc tế Là một trong những hình thức của du lịch nên du lịch quốc tế mang những đặc 15 điểm chung của du lịch và đặc điểm riêng chính là “yếu tố quốc tế”. Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam, khái niệm “du lịch quốc tế” có nhiều định nghĩa. Trong giáo trình Tổng quan du lịch năm 2002 của tác giả Trần Văn Thông, “du lịch quốc tế là sự dịch chuyển và lưu trú tạm thời của con người trong thời gian nhàn rỗi ở một quốc gia khác bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, chữa bệnh, qua đó phát triển thể chất, nhận thức và tinh thần” (Trần Văn Thông, 2002).
Theo khái niệm này, yếu tố quốc tế được thể hiện ở chỗ khách du lịch phải vượt ra khỏi biên giới quốc gia nơi mình đang sống mới được xem là du lịch quốc tế. Đồng tình với quan điểm trên, tác giả Nguyễn Minh Ngọc (2009) cho rằng “Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến nằm ở lãnh thổ của hai quốc gia khác nhau. Khách du lịch sẽ đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi họ đến du lịch”.