CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lý luận cơ bản về hoạch định chiến lược 1. Các khái niệm cơ bản Khái niệm chiến lược có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu xa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” nghĩa là vai trò của vị tướng trong quân đội.
Sau đó, nó phát triển thành “Nghệ thuật của tướng lĩnh” nói đến các kỹ năng hành xử và tâm lý của tướng lĩnh. Đến khoảng năm 330 trước công nguyên, tức là thời Alexander Đại đế, chiến lược dùng để chỉ kỹ năng quản trị để khai thác các lực lượng để đè bẹp đối phương và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục. Trong lịch sử loài người, rất nhiều các nhà lý luận quân sự như Tôn Tử, Alexander, Clausewitz, Napoleon, Stonewall Jackson, Douglas MacArthur đã đề cập và viết về chiến lược trên nhiều góc độ khác nhau. Luận điểm cơ bản của chiến lược là một bên đối phương có thể đè bẹp đối thủ, thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn - nếu họ có thể dẫn dắt thế trận và đưa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược, sự khác nhau giữa các định nghĩa thường là do quan điểm của mỗi tác giả. Năm 1962, Alfred Chandler một trong những nhà khởi xướng và phát triển lý thuyết về quản trị chiến lược đã định nghĩa: Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của một tổ chức và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này. Quinn đã định nghĩa: Chiến lược là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau. Gần đây, năm 1999 Johnson và Schole định nghĩa: Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm đạt được lợi thế cho tổ chức thông qua cấu hình các nguồn lực của nó trong bối cảnh của môi trường 1 thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trường và thoả mãn kỳ vọng của các bên hữu quan.
Ngoài ra, William J. Gluek đã cho rằng: Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của một tổ chức sẽ được thực hiện. Ohmae thì Mục đích của chiến lược là mang lại những điều kiện thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá chính xác thời điểm tấn công hay rút lui, xác định rõ ranh giới của sự thoả hiệp, ông nhấn mạnh Không có đối thủ cạnh tranh thì không cần chiến lược. Mục đích của chiến lược là đảm bảo dành thắng lợi so với đối thủ cạnh tranh.
Và Michael Porter lại cho rằng Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh để phòng thủ. Theo tác giả, Chiến lược phát triển của một cơ sở GDĐT và dạy nghề được hiểu là tập hợp thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của các đơn vị trong cơ sở GDĐT và dạy nghề. Ngoài ra, chiến lược còn là sự kết hợp hài hoà giữa ba yếu tố “R”: (Ripeness, Reality, Resources), do đó chiến lược kinh doanh là sản phẩm của sự sáng tạo và là một bước đi của những công việc sáng tạo phức tạp.1 Sự kết hợp 3 yếu tố của chiến lược R1: Ripeness: Chọn đúng điểm dừng (Điểm chín muồi) 2 R2: Reality: Khả năng thực thi chiến lược (Hiện thực) R3: Resources: Khai thác tiềm năng (Nguồn lực) Mục đích của một chiến lược là nhằm tìm kiếm những cơ hội, hay nói cách khác là nhằm gia tăng cơ hội và vươn lên tìm vị thế cạnh tranh. Một chiến lược khi được hoạch định có hai nhiệm vụ quan trọng và hai nhiệm vụ đó quan hệ mật thiết với nhau, đó là việc hình thành chiến lược và thực hiện chiến lược.
Hai nhiệm vụ này được cụ thể hoá qua ba giai đoạn tạo thành một quy trình khép kín, cụ thể: Một là, giai đoạn xây dựng và phân tích chiến lược: là quá trình phân tích hiện trạng, dự báo tương lai, chọn lựa và xây dựng những chiến lược phù hợp. Hai là, giai đoạn triển khai chiến lược: là quá trình triển khai những mục tiêu chiến lược vào hoạt động của doanh nghiệp. Đây là giai đoạn phức tạp và khó khăn, đòi hỏi một nghệ thuật quản trị cao. Ba là, giai đoạn kiểm tra và thích nghi chiến lược: là quá trình đánh giá và kiểm soát kết quả, tìm các giải pháp để thích nghi chiến lược và hoàn cảnh môi trường.
Hình thành, phân tích, Triển khai chiến lược chọn lựa chiến lược Kiểm tra và thích nghi chiến lược Sơ đồ 1.2 Các giai đoạn của quản trị chiến lược Việc hình thành chiến lược đòi hỏi phải tạo ra sự hài hoà và kết hợp cho được các yếu tố tác động đến chiến lược sau: - Các cơ hội thuộc môi trường bên ngoài - Các điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp 3 - Giá trị cá nhân của nhà quản trị - Những mong đợi bao quát về mặt xã hội Các điểm mạnh Kết hợp Những cơ hội và đe và yếu dọa của môi trường Các yếu tố Các yếu tố bên trong CHIẾN LƯỢC bên ngoài Các giá trị cá nhân Kết hợp Các mong đợi của nhà quản trị xã hội Sơ đồ 1.3 Hình thành chiến lược Khái niệm hoạch định chiến lược: Hoạch định chiến lược là một quá trình mà qua đó các chiến lược được hình thành. Như vậy, có thể thấy rằng: Hình thành chiến lược dựa trên cạnh tranh nội bộ thì không phải là hoạch định chiến lược. Phân tích và định hướng chiến lược phải có tính chất lâu dài. Hoạch định chiến lược được tiến hành trên toàn bộ công ty, đơn vị hoặc ít ra là tiến hành ở những bộ phận quan trọng nhất.
Năng lực và trách nhiệm của hoạch định chiến lược thuộc về những nhà quản lý cao nhất của công ty, đơn vị. Hoạch định chiến lược là đảm bảo sự thực hiện lâu dài những mục đích và mục tiêu trọng yếu của công ty, đơn vị. Hoạch định chiến lược là một quá trình liên tục, khi thực hiện một chiến lược cần phải liên tục giám sát sự thực hiện đó để xác định mức độ đạt được các mục tiêu chiến lược. Lúc này, ý nghĩa của việc hoạch định chiến lược được thể hiện một cách rõ ràng hơn, cụ thể là: 4 Nhận thấy rõ mục đích hướng đi làm cơ sở cho mọi kế hoạch hành động cụ thể.
Nhận biết được các cơ hội và nguy cơ trong tương lai, thích nghi, giảm thiểu sự tác động xấu từ môi trường, tận dụng những cơ hội của môi trường khi nó xuất hiện. Tạo ra thế chủ động tác động tới các môi trường, thậm chí thay đổi luật chơi trên thương trường, tránh tình trạng thụ động. Phân phối một cách có hiệu quả về thời gian, nguồn lực cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau. Khuyến khích cơ quan, đơn vị hướng về tương lai, phát huy sự năng động sáng tạo, ngăn chặn những tư tưởng ngại thay đổi, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tăng cường tính tập thể.
Tăng vị trí cạnh tranh, cải thiện các chỉ tiêu về doanh số, nâng cao đời sống cán bộ công nhân bảo đảm cho cơ quan, đơn vị phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh. Hình thành xây dựng chiến lược, yêu cầu khi xây dựng và thực hiện chiến lược a) Hình thành xây dựng chiến lược * Xác định mục tiêu chiến lược Trước khi hành động, một tổ chức cần phải biết mình sẽ đi đâu. Vì thế, việc xác định mục tiêu là hết sức quan trọng. Xác định mục tiêu chiến lược tương đối rộng và có thể phân tích ba phần: Chức năng, mục đích, mục tiêu.
Bộ phận đầu tiên và lớn nhất của mục tiêu chiến lược là chức năng nhiệm vụ, nó thể hiện lý do cơ bản để đơn vị tồn tại. Mục đích và mục tiêu là cái đích hay kết quả cụ thể hơn mà đơn vị mong muốn đạt được. Mục đích được rút ra từ chức năng nhiệm vụ và phải nhằm vào việc thực hiện chức năng nhiệm vụ đó. Sau khi đề ra chức năng nhiệm vụ và mục đích của đơn vị mọi người tham gia phải biết được chính xác điều đơn vị muốn đạt được là cái gì? Đó chính là mục tiêu cụ thể cần đạt được trong từng thời kỳ.
5 Xác định mục tiêu chiến lược cần căn cứ vào lợi ích các bên hữu quan, đó là chủ sở hữu, lãnh đạo đơn vị, nhà nước, chính quyền địa phương, ngân hàng, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nhà cung cấp và người lao động. * Chiến lược tổng quát Tiến trình tăng trưởng và phát triển đặt đơn vị trước sự chọn lựa về lĩnh vực hoạt động và thị trường tiêu thụ. Quá trình tăng trưởng của các doanh nghiệp, đơn vị có thể bắt đầu vào việc tập trung vào một lĩnh vực hoạt động kinh doanh nào đó, sau đó thực hiện phát triển thị trường và tiến trình đa dạng hoá sản phẩm. Một quyết định quan trọng khi doanh nghiệp lớn lên là có đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ hay không? Khi doanh nghiệp chỉ kinh doanh một loại sản phẩm dịch vụ nào đó mà không thể tiến hành đa dạng hoá chiến lược cấp doanh nghiệp là chiến lược cạnh tranh (cấp kinh doanh).
Việc tiến hành đa dạng hoá các hoạt động của doanh nghiệp có thể tham gia thông qua hội nhập dọc (phía trước hoặc phía sau) hay hội nhập ngang (đa dạng hoá liên quan hoặc không liên quan). * Chiến lược bộ phận Để cạnh tranh một cách có hiệu quả, các doanh nghiệp cần nhận dạng những cơ hội và thách thức trong môi trường kinh doanh như xây dựng và phát triển năng lực phân biệt nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh. Để chọn các chiến lược cạnh tranh trên cơ sở các năng lực phân biệt và lợi thế cạnh tranh, nguồn gốc của lợi thế cạnh tranh, từ đó gắn bó với các chiến lược đầu tư trong bối cảnh phát triển khi các chức năng tạo ra sự cộng hưởng và mỗi chức năng là một nhân tố quan trọng để tạo ra giá trị cho khách hàng. Chiến lược cạnh tranh được hỗ trợ và đảm bảo bởi các chiến lược cấp chức năng.
Việc hình thành và phát triển các chiến lược chức năng phải tạo ra sự cộng hưởng các chức năng nhằm phát huy và phát triển các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.