Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH MICE 1. Một số vấn đề lý luận về chiến lược kinh doanh 1. Khái niệm chiến lược và chiến lược kinh doanh Có nhiều khái niệm về chiến lược, có thể nói thuật ngữ “chiến lược” xuất phát từ lĩnh vực quân sự, trong kinh doanh sử dụng khi các tổ chức có sự cạnh tranh với nhau. - Những năm 1980, khi mà môn học quản trị chiến lược đã trở nên chín muồi, Quinn đã đưa ra định nghĩa chiến lược: “Chiến lược là mô thức kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ”.
Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại thuật ngữ chiến lược trong điều kiện môi trường có nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thoả mãn mong đợi của các bên hữu quan”. Chúng ta thấy hai định nghĩa chiến lược trên đều xuất hiện các cụm từ biểu thị các khía cạnh khác nhau cần phải bao hàm trong đó. Do đó, cần phải có các định nghĩa đa diện để có thể hiểu rõ hơn trong lĩnh vực này. Trong định nghĩa chiến lược với 5 chữ P, Mintzberg khái quát các khía cạnh của quản trị chiến lược như sau: - Kế hoạch (Plan): Chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán.
- Mô thức (Partern): Sự kiên định về hành vi theo thời gian. - Vị thế (Position): Phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó. - Quan niệm (Perspective): Cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới. - Thủ thuật (Ploy): Cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ.
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là sự lựa chọn, phối hợp các biện pháp (sức mạnh của doanh nghiệp) với thời gian (thời cơ) và với không gian (lĩnh vực hoạt động) theo sự phân tích môi trường và khả năng nguồn lực của doanh -------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HV: Nguyễn Thị Vân 5 GVHD: PGS.TS Trần Văn Bình Đại Học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý ----------------------------------------------------------------------------------------------------- nghiệp như thế nào để đạt được mục tiêu phù hợp với khuynh hướng của doanh nghiệp. Như vậy, có thể hàm ý chiến lược kinh doanh là kế hoạch tổng quát được xây dựng trong khuôn khổ môi trường cạnh tranh và các biến cố bên ngoài được dự kiến trước, trong đó phải bao gồm: - Mục tiêu phải đạt được trong tương lai hoặc trong một thời gian dài. - Các quyết định về biện pháp chiến lược, đó là cách thức chủ yếu để đạt được mục tiêu. - Những chính sách chủ yếu để thu hút các nguồn lực, phân bổ và sử dụng tối ưu các nguồn lực.
Phân loại chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 1. Theo cấp độ tổ chức - Chiến lược cấp công ty (toàn bộ doanh nghiệp): Đây là chiến lược chung, chiến lược chủ đạo. - Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh: (Strategic business unit, SBU). Chiến lược mà có thể giúp doanh nghiệp tạo nên lợi thế cạnh tranh vượt trội hơn so với đối thủ của nó.
- Chiến lược cấp bộ phận chức năng: Hỗ trợ cho việc thực hiện chiến lược của các SBU và chiến lược công ty bao gồm: Chiến lược marketing, chiến lược nhân sự, chiến lược quản trị nguyên vật liệu và mua hàng, chiến lược nghiên cứu và phát triển (R&D), Chiến lược tài chính, chiến lược sản xuất kinh doanh. Theo mục tiêu tăng trưởng Theo mục tiêu tăng trưởng doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong các chiến lược sau: - Chiến lược tăng trưởng tập trung: Chiến lược tăng trưởng tập trung đặt trọng tâm vào cải tiến các sản phẩm và thị trường hiện có bằng cách tăng cường chuyên môn hoá, phát triển thị phần và gia tăng doanh số, lợi nhuận. - Chiến lược tăng trưởng hội nhập: Là chiến lược phát triển doanh nghiệp trên cơ sở thiết lập và mở rộng các mối quan hệ với các trung gian và đối thủ cạnh tranh trong một số lĩnh vực. -------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HV: Nguyễn Thị Vân 6 GVHD: PGS.TS Trần Văn Bình Đại Học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý ----------------------------------------------------------------------------------------------------- - Chiến lược tăng trưởng đa dạng hoá: Là chiến lược tăng trưởng bằng cách thay đổi cơ bản về công nghệ, sản phẩm, lĩnh vực kinh doanh nhằm tạo ra những cặp sản phẩm - thị trường mới cho doanh nghiệp.
Hoạch định chiến lược cấp đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU: Strategic Business Unit) Trên cơ sở chiến lược kinh doanh của công ty, công ty thành lập các đơn vị kinh doanh chiến lược. Việc xác định các đơn vị kinh doanh chiến lược phải theo nhu cầu thị trường chứ không phải theo sản phẩm. Một công ty phải xem như một quá trình thoả mãn khách hàng chứ không phải một quá trình sản xuất ra sản phẩm. Một đơn vị kinh doanh chiến lược có thể xác định theo 3 tiêu chí: - Nhóm khách hàng, - Nhu cầu của khách hàng, - Các phương án công nghệ.
Các công ty phải xác định rõ những đơn vị kinh doanh chiến lược của mình để quản lý nó theo chiến lược. Một đơn vị kinh doanh chiến lược có 3 đặc điểm: - Có thể tách riêng khỏi phần còn lại của công ty, - Có đối thủ cạnh tranh riêng, - Kiểm soát hầu hết các yếu tố ảnh hưởng tới lợi nhuận, chịu trách nhiệm lập kế hoạch chiến lược. Việc hoạch định chiến lược cấp đơn vị kinh doanh chiến lược có thể chia thành năm bước chính, bao gồm: Xác định mục tiêu cho SBU; Phân tích môi trường bên ngoài để nhận dạng các cơ hội và đe doạ của SBU; Phân tích môi trường bên trong để nhận dạng các điểm mạnh và yếu của tổ chức SBU; Xây dựng các phương án chiến lược cho SBU; Lựa chọn các chiến lược tối ưu cho SBU này. Mô hình hoạch định chiến lược cho các SBU được minh hoạ bởi hình 1.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HV: Nguyễn Thị Vân 7 GVHD: PGS.TS Trần Văn Bình Đại Học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý ----------------------------------------------------------------------------------------------------- Mục tiêu của SBU Phân tích bên Phân tích bên ngoài (các cơ trong (các điểm hội và đe doạ) mạnh và điểm của SBU yếu) của SBU Xây dựng các phương án chiến lược cho SBU Lựa chọn chiến lược cho SBU Hình 1. Mô hình hoạch định chiến lược cho SBU 1. Xác định mục tiêu cho SBU Mục tiêu của SBU thường được biểu hiện trên hai tiêu chí cơ bản là: - Thị phần tương đối của SBU: Mục tiêu khi xác định thị phần tương đối (RMS: Relative Market Share) của một SBU là xét vị thế thị trường của nó được xếp vào loại yếu hay loại mạnh. Thị phần tương đối là tỷ lệ giữa thị phần của một SBU và thị phần của đối thủ mạnh nhất.
Nếu thị phần tương đối của SBU lớn hơn 1 thì SBU đó là đơn vị hàng đầu trong ngành kinh doanh của mình. - Tỷ lệ tăng trưởng ngành kinh doanh SBU: Tỷ lệ tăng từ 10% trở lên thông thường được xem là cao. Tỷ lệ cao là một cơ may cho ngành; ngược lại, tỷ lệ thấp là một nguy cơ cần phải đối phó. Phân tích môi trường kinh doanh * Môi trường vĩ mô Nghiên cứu môi trường là một nội dung quan trọng trong hoạch định chiến lược.
Nghiên cứu môi trường bên ngoài giúp tổ chức nhận định những mối đe doạ cũng như những cơ hội có ảnh hưởng đến hoạt động của các công ty nói chung và đơn vị kinh doanh chiến lược nói riêng. Môi trường vĩ mô bao gồm: -------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HV: Nguyễn Thị Vân 8 GVHD: PGS.TS Trần Văn Bình Đại Học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý ----------------------------------------------------------------------------------------------------- - Môi trường kinh tế Đây là yếu tố rất quan trọng thu hút sự quan tâm của tất cả các nhà quản trị. Sự tác động của các yếu tố thuộc môi trường kinh tế có tính chất gián tiếp và năng động hơn so với một số yếu tố khác. - Môi trường chính trị - pháp luật Bao gồm hệ thống các quan điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống luật pháp hiện hành, các xu hướng chính trị ngoại giao của chính phủ và những diễn biến chính trị trong nước, trong khu vực và trên thế giới.
- Môi trường văn hoá xã hội Bao gồm những chuẩn mực và giá trị mà chuẩn mực và giá trị này được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hoá cụ thể. Sự tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường có tính dài hạn và tinh tế hơn so với các yếu tố khác, thậm chí nhiều lúc khó nhận biết được. Mặt khác, phạm vi tác động của các yếu tố văn hoá xã hội thường rất rộng, nó xác định cách thức sống, làm việc, sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của người tiêu dùng. - Môi trường tự nhiên và yếu tố dân số Điều kiện tự nhiên bao gồm vị trí địa lý, khí hậu, cảnh quan thiên nhiên, đất đai, sông biển, các nguồn tài nguyên, môi trường nước và không khí…có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, yếu tố dân số cũng có ảnh hưởng quyết định đến thị trường và nhu cầu sử dụng, tốc độ phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. - Môi trường công nghệ Những áp lực và đe doạ từ môi trường công nghệ có thể là: Sự ra đời của công nghệ mới làm xuất hiện và tăng cường ưu thế cạnh tranh của các sản phẩm thay thế, đe doạ các sản phẩm truyền thống của ngành hiện hữu. Tuy nhiên, công nghệ mới cũng tạo điều kiện để sản xuất sản phẩm rẻ hơn với chất lượng cao hơn, nhiều tính năng hơn, làm cho sản phẩm có khả năng cạnh tranh tốt hơn. * Môi trường ngành -------------------------------------------------------------------------------------------------------------- HV: Nguyễn Thị Vân 9 GVHD: PGS.TS Trần Văn Bình Đại Học Bách Khoa Hà Nội – Viện Kinh tế và Quản lý ----------------------------------------------------------------------------------------------------- Theo Michael Porter có năm lực lượng định hướng cạnh tranh trong phạm vi ngành, đó là: (1) Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng: (2) Mức độ cạnh tranh giữa các công ty hiện có trong ngành; (3) Sức mạnh thương lượng của người mua; (4) Sức mạnh thương lượng của người bán; (5) Đe doạ của các sản phẩm thay thế: Porter chỉ ra rằng các lực lượng này càng mạnh càng hạn chế khả năng của các công ty hiện tại trong việc tăng giá và có được lợi nhuận cao hơn.
Trong khuôn khổ của Porter, một lực lượng cạnh tranh có thể xem như một sự đe doạ, bởi vì nó làm giảm lợi nhuận.