Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN LÝ CHIẾN LƯỢC 1.1- TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC: 1.1- Khái niệm: Khái niệm "chiến lược" được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự, sau đó, trong lĩnh vực chính trị. Từ những năm 50-60 của thế kỷ XX, khái niệm chiến lược được sử dụng sang lĩnh vực kinh tế, xã hội. "Chiến lược" thường được hiểu là hướng và cách giải quyết nhiệm vụ đặt ra mang tính toàn cục, tổng thể và trong thời gian dài. Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) cho rằng: "Thông thường, một chiến lược phát triển có thể mô tả như bản phác thảo quá trình phát triển nhằm đạt những mục tiêu đã định cho một thời kỳ từ 10 - 20 năm; nó hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực.
Như vậy, có thể nói chiến lược cung cấp một "tầm nhìn" của một quá trình phát triển mong muốn và sự nhất quán trong các biện pháp tiến hành. Chiến lược có thể là cơ sở cho các kế hoạch phát triển toàn diện ngắn h ạn và trung hạn, hoặc là một nhận thức tổng quát không bị ràng buộc của những người trong cuộc trong thời kỳ đó về những triển vọng, những thách thức và những đáp ứng mong muốn". Trong quản trị kinh doanh, khái niệm chiến lược được thể hiện qua các quan niệm sau: - Chiến lược như những quyết định, những hành động hoặc những kế hoạch liên kết với nhau được thiết kế để đề ra và thực hiện những mục tiêu của một tổ chức. - Chiến lược là tập hợp những quyết định và hành động hướng đến các mục tiêu đảm bảo sao cho năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài.
Võ Khắc Thế Hùng - Cao học QTKD 2004-2006 Đại học Bách Khoa Hà Nội 8 - Theo Fred R. David thì chiến lược là những phương tiện đạt đến mục tiêu dài hạn. - Theo Alfred Chadler đại học Harvard thì chiến lược là sự xác định các mục tiêu cơ bản và lâu dài của một doanh nghiệp, và là sự vạch ra một quá trình hành động và phân phối các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu đó. Nói chung các khái niệm, định nghĩa về chiến lược tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng luôn bao hàm các nội dung: + Xác định các mục tiêu ngắn và dài hạn của doanh nghiệp.
+ Đưa ra và lựa chọn các phương án lựa chọn. + Triển khai và phân bổ các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. * Hoạch định là hoạt động nhằm định ra mục tiêu và các chiến lược để thực hiện mục tiêu đã định. Hoạch định chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài, tổng thể và bộ phận, là một điều hết sức quan trọng và cần thiết.
Mục đích của việc hoạch định chiến lược kinh doanh là "dự kiến tương lai trong hiện tại". Dựa vào chiến lược kinh doanh, các nhà quản lý có thể lập các kế hoạch cho những năm tiếp theo. Tuy nhiên, quá trình đó phải có sự kiểm soát chặt chẽ, hiệu chỉnh trong từng bước đi. Một chiến lược vững mạnh, luôn cần đến khả năng, điều hành linh hoạt, sử dụng được các nguồn lực vật chất, tài chính và con người thích ứng.2- Các loại chiến lược kinh doanh: 1.1- Căn cứ vào phạm vi của chiến lược kinh doanh: - Chiến lược chung (chiến lược công ty): Chiến lược chung thường đề cập tới những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài.
Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của doanh nghiệp. - Chiến lược bộ phận: Đây là chiến lược cấp hai. Thông thường trong doanh nghiệp, loại chiến lược bộ phận này gồm: chiến lược sản xuất, chiến Võ Khắc Thế Hùng - Cao học QTKD 2004-2006 Đại học Bách Khoa Hà Nội 9 lược tài chính, chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chiến lược marketing, hệ thống thông tin, chiến lược nghiên cứu phát triển. Chiến lược chung và chiến lược bộ phận liên kết với nhau thành một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh của một doanh nghiệp.2- Căn cứ vào hướng tiếp cận chiến lược kinh doanh: Được chia làm 4 loại: - Loại thứ nhất: Chiến lược tập trung vào nhân tố then chốt.
Tư tưởng chỉ đạo của việc hoạch định chiến lược ở đây là không dàn trải các nguồn lực mà cần tập trung cho những hoạt động kinh doanh có ý nghĩa quyết định đối với sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Loại thứ hai: Chiến lược kinh doanh dựa trên xu thế tương đối, bắt đầu từ sự phân tích, so sánh sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình so với các đối thủ cạnh tranh, thông qua sự phân tích đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của mình làm chỗ dựa cho chiến lược kinh doanh. - Loại thứ ba: Chiến lược sáng tạo tấn công. Trong loại chiến lược này, chiến lược kinh doanh được xây dựng bằng cách nhìn thẳng vào những vấn đề phổ biến, tưởng như khó làm khác được, đặt câu hỏi tại sao lại phải làm như vậy? Xét lại những vấn đề trước đây để tìm ra những khám phá mới làm cơ sở cho chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình.
- Loại thứ tư: Chiến lược khai thác các khả năng tiềm tàng. Cách xây dựng chiến lược kinh doanh ở đây không nhằm vào nhân tố then chốt mà nhằm khai thác khả năng tiềm tàng các nhân tố thuận lợi, đặc biệt là tiềm năng sử dụng nguồn lực dư thừa, nguồn lực hỗ trợ của các lĩnh vực kinh doanh trọng yếu.3- Căn cứ xây dựng các chiến lược kinh doanh: Khi xây dựng các chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp phải căn cứ vào: - Những định hướng phát triển kinh tế-xã hội. Võ Khắc Thế Hùng - Cao học QTKD 2004-2006 Đại học Bách Khoa Hà Nội 10 - Chế độ, định hướng của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước. - Kết quả điều tra, nghiên cứu dự báo nhu cầu thị trường.
- Kết quả phân tích, tính toán, dự báo về nguồn lực mà doanh nghiệp có thể khai thác. Chiến lược kinh doanh luôn được hoàn thiện và sửa đổi khi có những biến động lớn về chủ trương và sự thay đổi lớn của tình hình thị trường.2- QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH: 1.1- Khái niệm: Theo các cách tiếp cận về môi trường, về mục tiêu và biện pháp, các hành động có thể khái niệm như sau: Quản trị chiến lược kinh doanh là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại cũng như tương lai, hoạch định các mục tiêu của các doanh nghiệp đề ra, thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định nhằm đạt được các mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như trong tương lai. Mục đích của chiến lược kinh doanh là nhằm tìm kiếm những cơ hội hay là nhằm gia tăng cơ hội và vươn lên tìm vị thế cạnh tranh. Một chiến lược kinh doanh được hoạch định với hai nhiệm vụ quan trọng, có quan hệ mật thiết với nhau là việc hình thành chiến lược và thực hiện chiến lược.
Hai nhiệm vụ này được cụ thể hoá qua 3 giai đoạn tạo thành một chu trình khép kín, đó là: - Giai đoạn xây dựng và phân tích chiến lược kinh doanh: là quá trình phân tích hiện trạng, dự báo tương lai, chọn lựa và xây dựng những chiến lược phù hợp với điều kiện của các doanh nghiệp. - Giai đoạn triển khai chiến lược: là quá trình triển khai những mục tiêu chiến lược vào hoạt động của doanh nghiệp. Đây là giai đoạn phức tạp và khó khăn, đòi hỏi một nghệ thuật quản trị cao. Võ Khắc Thế Hùng - Cao học QTKD 2004-2006 Đại học Bách Khoa Hà Nội 11 - Giai đoạn kiểm tra và thích nghi chiến lược: là quá trình đánh giá và kiểm soát kết quả, tìm các giải pháp để thích nghi chiến lược với hoàn cảnh môi trường của các doanh nghiệp.
Các giai đoạn của quản trị chiến lược thể hiện rõ ở hình 1.1: Các giai đoạn của quản trị chiến lược Hình thành, phân tích, chọn lựa chiến lược Triển khai chiến lược Kiểm tra và thích nghi chiến lược 1.2- Vai trò của quản trị chiến lược kinh doanh: Quá trình quản trị chiến lược kinh doanh giúp các doanh nghiệp thấy rõ mục đích và hướng đi của mình, khiến các nhà quản trị phải xem xét và xác định xem doanh nghiệp đi theo hướng nào và khi nào thì đạt tới vị trí đó. Việc nhận thức kết quả mong muốn và mục đích trong tương lai giúp cho nhà quản trị cũng như nhân viên nắm vững được việc gì cần làm để đạt được thành công. Như vậy sẽ khuyến khích cả hai nhóm đối tượng nói trên đạt được những thành tích ngắn hạn, nhằm cải thiện tốt hơn phúc lợi lâu dài của doanh nghiệp. Điều kiện môi trường mà các doanh nghiệp gặp phải luôn biến đổi, tạo ra những cơ hội và nguy cơ bất ngờ, quản trị chiến lược kinh doanh giúp nhà quản trị nhằm vào các cơ hội và nguy cơ trong tương lai.
Trong quá trình quản trị chiến lược đòi hỏi người lãnh đạo phân tích và dự báo các điều kiện môi trường trong tương lai gần cũng như tương lai xa. Vì vậy họ sẽ nắm bắt Võ Khắc Thế Hùng - Cao học QTKD 2004-2006 Đại học Bách Khoa Hà Nội 12 và tận dụng tốt hơn các cơ hội, giảm bớt nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường kinh doanh. Nhờ có quá trình quản lý chiến lược, doanh nghiệp sẽ gắn liền các quyết định đề ra với điều kiện môi trường liên quan. Do sự biến động và tính phức tạp của môi trường ngày càng tăng, các doanh nghiệp cần phải cố gắng chiếm được vị thế chủ động tấn công hoặc phòng thủ.
Quyết định chủ động là sự cố gắng dự báo điều kiện môi trường và sau đó tác động hoặc làm thay đổi các điều kiện sao cho doanh nghiệp đạt mục tiêu đề ra. Quyết định chủ động phòng thủ là dự báo các điều kiện môi trường trong tương lai và thông qua biện pháp hành động nhằm tối ưu hoá vị thế của doanh nghiệp bằng cách tránh những vấn đề đã thấy trước và chuẩn bị tốt hơn để thực hiện bằng được cơ hội tiềm tàng. Các doanh nghiệp không vận dụng quản lý chiến lược thường đưa ra các quyết định phản ứng thụ động, sau khi môi trường thay đổi mới đưa ra hành động. Tuy các quyết định phản ứng thụ động nhiều khi cũng mang lại hiệu quả, nhưng quản trị chiến lược sẽ giúp các doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn để đối phó với những thay đổi của môi trường và làm chủ được diễn biến tình hình.