phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề án gồm 4 phần nhƣ sau: Phần 1. Điều kiện, nội dung, nhân tố ảnh hƣởng đến phát triển hệ thống logistics trên địa bàn tỉnh An Giang Phần 2. Thực trạng phát triển hệ thống logistics trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2007 – 2016 Phần 3. Phƣơng án phát triển hệ thống logistics trên địa bàn tỉnh An Giang đến năm 2025, định hƣớng đến năm 2030 Phần 4.
Giải pháp và tổ chức thực hiện 6 luan an PHẦN 1. ĐIỀU KIỆN, NỘI DUNG, NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG LOGISTICS TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG 1. Tổng quan về tỉnh An Giang 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Tỉnh * Vị trí địa lý An Giang là một trong 4 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm (KTTĐ) vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)1, phía Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Tây Bắc giáp nƣớc bạn Campuchia, phía Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang và phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ.
Bên cạnh đó, tỉnh An Giang còn nằm trong tiểu vùng Tứ giác Long Xuyên2 với TP. Long Xuyên và TP. Châu Đốc là hai trong 4 đỉnh của Tứ giác. Bản đồ hành chính tỉnh An Giang Tỉnh có vị trí liền kề với TP.
Cần Thơ (trung tâm kinh tế lớn của vùng ĐBSCL) và khá gần TP. Hồ Chí Minh, cách 190 km (trung tâm cấp Quốc gia và vùng trọng điểm miền Nam và Đông Nam Bộ, vừa là trung tâm kinh tế - khoa học kỹ thuật - văn hóa, vừa là thị trường lớn, tạo điều kiện tương tác lẫn nhau trong tiêu thụ sản phẩm và tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật). Tổng diện tích tự nhiên toàn Tỉnh là 3.536,680 km2, chiếm 8,7% diện tích vùng ĐBSCL và chiếm 1,07% diện tích cả nƣớc, đứng thứ 4 trong13 tỉnh của vùng ĐBSCL. Tỉnh An Giang đƣợc chia thành 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 02 thành phố là TP.
Long Xuyên (tỉnh lỵ) và TP. Châu Đốc, 01 thị xã (Tân Châu) và 08 huyện với 156 xã, phƣờng, thị trấn. An Giang có tuyến biên giới dài gần 100 km với 02 cửa khẩu quốc gia, 02 cửa khẩu quốc tế (trong đó có 1 CKQT đƣờng thủy Sông Tiền, xã Vĩnh Xƣơng) và nhiều đƣờng mòn, lối mở nên Tỉnh có nhiều lợi thế để trở thành cầu nối trung chuyển hàng hóa giữa thị trƣờng trong nƣớc với thị trƣờng Campuchia và các nƣớc ASEAN. * Địa hình và thủy văn 7 luan an An Giang có 2 dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi.
Bên cạnh đó, mang đặc trƣng thủy văn của vùng ĐBSCL nên An Giang có hệ thống các sông lớn, có hệ thống rạch tự nhiên và kênh đào rải khắp trên địa bàn Tỉnh. Tỉnh nằm đầu nguồn sông Cửu Long, có sông Tiền3, sông Hậu bao bọc cùng hệ thống kênh rạch chằng chịt tạo thành những tuyến giao thông đƣờng thuỷ quan trọng nối liền các địa bàn trong Tỉnh và với các tỉnh vùng ĐBSCL, với các nƣớc Campuchia, Lào, Thái Lan. * Khí hậu An Giang mang đặc trƣng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt là mùa mƣa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 0C, lƣợng mƣa trung bình năm khoảng 1.
Độ ẩm trung bình 75 - 80%. Tỉnh không chịu ảnh hƣởng trực tiếp của bão, các hiện tƣợng lốc xoáy. * Tài nguyên thiên nhiên - Tài nguyên đất Phần lớn diện tích đất của An Giang là đất sản xuất nông nghiệp (chiếm 79,95%), đất lâm nghiệp có rừng chiếm 3,29%, đất nuôi trồng thủy sản chiếm 1,13%, đất ở chiếm 3,82%, đất chƣa sử dụng còn rất ít, chiếm 0,32%. - Tài nguyên nƣớc Tài nguyên nƣớc mặt, đƣợc cung cấp chủ yếu từ sông Tiền và sông Hậu, cùng với hơn 280 tuyến sông rạch lớn khác, lƣu lƣợng của các sông khá lớn nên đủ cung cấp nƣớc cho các hoạt động sản xuất và sinh hoạt kể cả trong mùa khô.
Đây là nguồn cung cấp nƣớc tƣới cho hầu hết diện tích gieo trồng canh tác trong Tỉnh, tạo thuận lợi đối với sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, với nguồn nƣớc mặt dồi dào, mang lại cho Tỉnh nguồn lợi thủy sản phong phú và đa dạng, từ đó tạo ra lợi thế về điều kiện khai thác và phát triển ngành nuôi trồng, chế biến thủy hải sản. Các loại thủy hải sản chủ yếu gồm: cá, tôm, cua… dù có trữ lƣợng hạn chế, nhƣng với diện tích mặt nƣớc lớn, nguồn lợi thủy sản đa dạng về chủng loại nên khai thác đƣợc quanh năm (trừ mùa bão, lũ…). - Tài nguyên rừng An Giang hiện có 12.572,7 ha rừng, trong đó 1.113,43 ha rừng tự nhiên, 11.459,27 ha rừng trồng.
Rừng trồng chủ yếu là các loại cây mọc nhanh nhƣ bạch đàn, keo lá tràm, tai tƣợng kết hợp với cây gỗ quý nhƣ sao, dầu, giáng hƣơng, cây dó bầu và các loại cây ăn quả lâu năm. Rừng tự nhiên hiện còn giữ đƣợc các cây gỗ quý nhƣ giáng hƣơng, thau lao, dầu, căm xe. Rừng đất ngập nƣớc chủ yếu là cây tràm (rừng tràm Trà Sƣ). Mặc dù tài nguyên rừng của Tỉnh có diện tích không lớn nhƣng có ý nghĩa quan trọng về mặt sinh thái, an ninh quốc phòng và đặc biệt ở vùng núi, tài nguyên rừng tạo môi trƣờng thuận lợi đối với việc trồng cây dƣợc liệu dƣới tán rừng tạo ra sản phẩm dƣợc liệu có dƣợc tính rất cao so với các tỉnh khác trong vùng ĐBSCL.
8 luan an + Tài nguyên du lịch An Giang là một trong những Tỉnh thuộc vùng ĐBSCL đƣợc thiên nhiên ƣu đãi với nhiều danh lam, thắng cảnh, núi non hùng vĩ. Bên cạnh đó, Tỉnh có đa dân tộc, đa tôn giáo với 4 dân tộc là Kinh, Khmer, Chăm, Hoa cùng chung sống lâu đời tạo ra những giá trị văn hóa dân tộc phong phú, đa dạng thể hiện qua các lê hội văn hóa dân tộc, tín ngƣỡng tôn giáo. Tỉnh có 11 tôn giáo đƣợc phân bổ rộng khắp trên địa bàn tỉnh, gắn với hệ thống tín ngƣỡng là hệ thống các cơ sở thờ tự nhƣ Miếu, Miễu, Thánh thất, Đền, Đình, Chùa, Lăng, Nhà thờ, Thánh đƣờng Hồi Giáo. Trong đó, tín ngƣỡng thờ mẫu nổi tiếng khắp cả nƣớc, thu hút hàng triệu lƣợt khách mỗi năm.
Các làng nghề thủ công truyền thống, các công trình kiến trúc văn hóa độc đáo với nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh thắng. Tỉnh có 82 di tích đƣợc xếp hạng, trong đó có 02 di tích cấp quốc gia đặc biệt là khu lƣu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng và Khu di tích văn hóa Óc Eo, 28 di tích cấp quốc gia và 52 di tích cấp tỉnh; 02 Lễ hội đƣợc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia là Lễ hội vía Bà Chúa Xứ núi Sam và Hội đua bò Bảy Núi; 01 khu du lịch quốc gia. Tỉnh có giao thông thủy, bộ thuận tiện đến thành phố Phnôm Pênh (Campuchia) với khoảng cách ngắn nhất. An Giang là trung tâm giao lƣu kinh tế, văn hoá với tiểu vùng sông Mê kông gồm: Việt Nam, Campuchia, Lào, Thái Lan và một số nƣớc Đông Nam Á khác.
Do vậy, khách du lịch đến An Giang không chỉ để thăm quan các phong cảnh thiên nhiên và các lễ hội trong Tỉnh mà còn để du lịch sang các nƣớc ASEAN khác. + Tài nguyên khoáng sản Tỉnh có nguồn tài nguyên khoáng sản khá phong phú với các loại đá xây dựng, đá ốp lát, đá áplit, cát núi, cát sông, sét gạch ngói, than bùn, kaolin, vỏ sò, nƣớc khoáng, quặng kim loại (molipden, vàng gốc, vàng thiếc)…, đóng góp tích cực cho phát triển KT-XH của Tỉnh, cũng nhƣ là nguồn cung cấp nguyên vật liệu xây dựng phục vụ thị trƣờng trong Tỉnh và vùng ĐBSCL. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh An Giang * Tăng trưởng kinh tế Trong giai đoạn 2007-2016, kinh tế của Tỉnh liên tục tăng trƣởng và phát triển với quy mô GRDP ngày càng tăng và nhịp tăng trƣởng khá cao đã tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành sản xuất phát triển, tác động tích cực đối với phát triển các ngành dịch vụ, đặc biệt là thƣơng mại và dịch vụ logistics. Cụ thể: Giai đoạn 2007-2010, kinh tế của Tỉnh đạt mức tăng trƣởng bình quân tăng 10,66%/năm (GRDP tính theo giá so sánh 1994 tăng từ 12.835,8 tỷ đồng năm 2007 lên 16.
Giai đoạn 2011-2016, kinh tế của Tỉnh đạt mức tăng trƣởng bình quân tăng 5,1%/năm (GRDP tính theo giá so sánh 2010 tăng từ 41.620,2 tỷ đồng năm 2011 lên 52. 9 luan an Biểu đồ 1. Tăng trƣởng kinh tế của cả nƣớc và An Giang giai đoạn 2007 - 20164 Đơn vị tính: % \ Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh An Giang và cả nước năm 2010 và 2016 *Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế - Cơ cấu kinh tế So với cả nƣớc, tăng trƣởng và quy mô kinh tế của Tỉnh còn khiêm tốn. Quy mô kinh tế của Tỉnh bằng 1,52% GDP cả nƣớc.
Đồng thời, tăng trƣởng kinh tế của Tỉnh giai đoạn 2007- 2016 thấp hơn tốc độ tăng trƣởng chung của cả nƣớc. Cơ cấu kinh tế của tỉnh An Giang và cả nƣớc năm 2016 Đơn vị tính: % Nguồn: Niên giám thống kê cả nước 2016; Niên giám thống kê tỉnh An Giang năm 2016 Trong cơ cấu kinh tế của Tỉnh hiện nay cho thấy, dịch vụ là ngành kinh tế chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn trong GRDP, chiếm khoảng 51,70%; tiếp đến là ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 32,96% (năm 2016). Nhƣ vậy, ngành công nghiệp – xây dựng (CN-XD) trên địa bàn Tỉnh còn chậm phát triển, chiếm tỷ trọng thấp trong GRDP của tỉnh, với khoảng 13,73% (năm 2016). Cơ cấu kinh tế hiện nay của Tỉnh có sự khác biệt so với cơ cấu kinh tế chung của cả nƣớc, với tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong GRDP của Tỉnh cao hơn nhiều so với cả nƣớc (32,96% của Tỉnh so với 16,32% của cả nƣớc); Tỷ trọng của 10 luan an CN-XD của Tỉnh thấp hơn nhiều so với cả nƣớc (tƣơng ứng là 13,73% so với 32,72%); Tỷ trọng của ngành dịch vụ của Tỉnh cao hơn so với cả nƣớc (tƣơng ứng là 51,70% so với 40,92%).
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế Trong giai đoạn 2007-2016, cơ cấu kinh tế trên địa bàn Tỉnh mặc dù có sự chuyển dịch theo hƣớng tăng dần tỷ trọng CN-XD và giảm dần tỷ trọng của nông, lâm nghiệp và thủy sản nhƣng còn chậm.