Tổng quan nghiên cứu

Ngành in giữ vị trí then chốt trong đời sống văn hóa, chính trị và sản xuất kinh doanh của toàn xã hội, đóng vai trò là ngành khoa học kỹ thuật tổng hợp quan trọng. Tại Việt Nam, ngành in Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế khi đóng góp trên 40% tổng sản lượng trang in cả nước, phối hợp phát hành hơn 100 triệu bản sách các loại và hàng trăm ngàn tờ báo mỗi năm. Tuy nhiên, trước làn sóng hội nhập kinh tế sâu rộng với các hiệp định thương mại như Hiệp định thương mại tự do ASEAN (AFTA) và tiến trình gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các doanh nghiệp in trên địa bàn đang đứng trước sức ép cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn in quốc tế.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là sự mất cân đối trong chuỗi cung ứng công nghệ, tình trạng cạnh tranh phá giá đơn giá in lên đến gần 30% đối với các hợp đồng in sách giáo dục, cùng năng lực tài chính còn phân tán của đa số các đơn vị vừa và nhỏ. Mục tiêu cụ thể của luận văn là nhận diện toàn diện môi trường kinh doanh thông qua hệ thống ma trận chiến lược, từ đó hoạch định các giải pháp phát triển đồng bộ cho các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống các nhà máy, xí nghiệp in thuộc mọi thành phần kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1998 - 2007 và xây dựng định hướng chiến lược đến năm 2015. Ý nghĩa nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn cao khi cung cấp luận cứ định hướng tăng trưởng sản lượng đạt 10-15% mỗi năm, nâng mức đóng góp ngân sách vượt mốc 280 tỷ đồng và thúc đẩy năng suất lao động bình quân đạt 655 triệu đồng trên người mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết quản trị chiến lược hiện đại của Fred David và Alfred Chandler, tiếp cận chiến lược kinh doanh như một hệ thống mục tiêu dài hạn đi kèm quá trình phân bổ nguồn lực tối ưu. Khung lý thuyết phân tầng cấu trúc chiến lược thành ba cấp độ cốt lõi bao gồm: chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp kinh doanh và chiến lược cấp chức năng. Trong đó, chiến lược cấp kinh doanh tập trung vào việc định vị sản phẩm và xác lập lợi thế cạnh tranh trên từng phân khúc thị trường mục tiêu.

Mô hình nghiên cứu áp dụng quy trình quản trị chiến lược toàn diện gồm ba giai đoạn: giai đoạn nhập vào với Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE), Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE) và Ma trận hình ảnh cạnh tranh; giai đoạn kết hợp sử dụng Ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - nguy cơ (SWOT); giai đoạn quyết định thông qua Ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM). Các chỉ số đánh giá được chuẩn hóa với thang đo trọng số từ 0.0 đến 1.0 và hệ số phản ứng phân loại từ 1 đến 4, lấy mốc điểm trung bình 2.50 làm tiêu chuẩn đối sánh mức độ thích ứng môi trường.

Nghiên cứu tích hợp các khái niệm học thuật cơ bản gồm: chuỗi giá trị ngành in bao gồm khâu trước in, khâu in và khâu sau in; cơ cấu ấn phẩm thương mại; năng lực cạnh tranh cốt lõi. Mô hình kinh tế nhấn mạnh nguyên lý khai thác tối đa lợi thế so sánh nhằm tập trung nguồn vốn đầu tư trọng điểm, tránh dàn trải và tăng khả năng tái tích lũy tài chính cho doanh nghiệp.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ Niên giám thống kê, báo cáo chuyên ngành của Cục Xuất bản thuộc Bộ Văn hóa Thông tin, cơ sở dữ liệu của Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh và các tạp chí chuyên ngành in quốc tế. Nghiên cứu thực hiện khảo sát trên tổng thể 231 cơ sở in tiêu biểu đại diện cho hơn 492 đơn vị in trên toàn quốc và đi sâu phân tích chọn mẫu khảo sát đối với 60 doanh nghiệp in trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp chọn mẫu áp dụng là phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp giữa chọn mẫu thuận tiện và chọn mẫu có chủ đích, bảo đảm bao phủ đầy đủ năm loại hình tổ chức: doanh nghiệp nhà nước hạch toán độc lập, doanh nghiệp cổ phần hóa, đơn vị in nội bộ, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Cỡ mẫu này bảo đảm tính đại diện cao cho các phân khúc in sách báo, in bao bì nhãn hàng và văn hóa phẩm thương mại.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích ma trận EFE, IFE, ma trận hình ảnh cạnh tranh và SWOT là nhằm lượng hóa các yếu tố định tính phức tạp của môi trường vĩ mô và vi mô thành các chỉ số đo lường cụ thể, giảm thiểu tính chủ quan trong quá trình ra quyết định. Timeline nghiên cứu phân tích dữ liệu thực trạng chuỗi thời gian từ năm 1998 đến năm 2006, từ đó thiết lập các dự báo định lượng và kế hoạch hành động chi tiết đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu ấn phẩm ngành in có sự chuyển dịch mang tính bước ngoặt giữa các nhóm sản phẩm. Dữ liệu khảo sát 60 doanh nghiệp giai đoạn 1998 - 2006 cho thấy tỷ trọng trang in sách các loại sụt giảm mạnh từ mức 59% năm 1998 xuống còn 46% năm 2002 và chỉ còn 33% vào năm 2006. Ngược lại, nhóm ấn phẩm bao bì, nhãn mác, catalogue tăng trưởng bứt phá từ 12% năm 1998 lên 25% năm 2002 và đạt 35% năm 2006; nhóm báo và tạp chí tăng từ 10% lên 18%.

Thứ hai, quá trình hiện đại hóa công nghệ diễn ra nhanh nhưng mất cân đối nghiêm trọng giữa các công đoạn sản xuất. Thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn tất cơ bản chương trình offset hóa với gần 100% doanh nghiệp trang bị máy in offset tự động nhiều màu hiện đại như Heidelberg, Roland hay Komori. Địa bàn thành phố tập trung khoảng 36 trong tổng số 54 hệ thống chế bản tách màu điện tử của cả nước. Tuy nhiên, khâu sau in vẫn trong tình trạng chắp vá, thiếu đồng bộ các thiết bị gia công tự động như máy bế, dán hộp, đóng sách tự động, khiến thời gian hoàn thiện ấn phẩm bị kéo dài.

Thứ ba, kết quả sản xuất kinh doanh tăng trưởng nhưng biên độ lợi nhuận chịu sức ép giảm giá nặng nề. Doanh thu công in toàn thành phố năm 2006 đạt khoảng 1.050 tỷ đồng, lãi ròng đạt 253 tỷ đồng (tăng 87,4% so với mức 135 tỷ đồng năm 1998), nộp ngân sách đạt 280 tỷ đồng. Dù vậy, do tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và đấu thầu phá giá, đơn giá gia công in sách trắng đen đã giảm 30% (từ 40.000 đồng/ram xuống khoảng 28.000 đồng/ram), giá chế bản phim giảm 28% so với các năm trước.

Thứ tư, nguồn nhân lực ngành in thiếu hụt nghiêm trọng đội ngũ công nhân kỹ thuật bậc cao và chuyên gia quản trị chiến lược. Thống kê từ 231 cơ sở in với 18.322 lao động cho thấy lực lượng lao động có trình độ đại học chuyên ngành in chỉ có 821 người (chiếm 4,5%), thợ tay nghề cao bậc 7 chỉ có 810 người (chiếm 4,4%), trong khi thợ bậc thấp từ bậc 1 đến bậc 3 chiếm tỷ lệ lớn.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của sự dịch chuyển cơ cấu sản phẩm xuất phát từ sự bùng nổ của sản xuất hàng hóa tiêu dùng, đòi hỏi tiêu chuẩn mẫu mã bao bì cao hơn để cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, sự phát triển của công nghệ thông tin và mạng internet đã làm giảm dần sự phụ thuộc vào các tài liệu giấy truyền thống. Kết quả phân tích Ma trận IFE đạt 2.50 điểm cho thấy nội lực ngành in Thành phố Hồ Chí Minh chỉ ở mức trung bình, trong khi Ma trận EFE đạt 2.77 điểm thể hiện khả năng phản ứng với các cơ hội và nguy cơ ngoại cảnh chưa thực sự chủ động.

Dữ liệu chuyển dịch cơ cấu sản phẩm giai đoạn 1998 - 2006 rất thích hợp để trực quan hóa qua biểu đồ tròn (Pie chart), thể hiện trực tiếp sự mở rộng thị phần của nhóm bao bì nhãn mác (tăng 23% điểm phần trăm) đối lập với sự thu hẹp của mảng in sách (giảm 26% điểm phần trăm). Bên cạnh đó, kết quả từ Ma trận hình ảnh cạnh tranh nên được trình bày qua bảng so sánh đa tiêu chí, làm nổi bật khoảng cách giữa doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh (đạt tổng điểm 2.30) trước các doanh nghiệp lớn toàn quốc (3.10 điểm) và các đối thủ nước ngoài như Trung Quốc, Thái Lan và Singapore.

So với ngành in khu vực, trong khi Thái Lan đầu tư bình quân 25 triệu USD mỗi năm cho hệ thống in xuất bản, các doanh nghiệp in tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập, với khoảng 60% lượng mực cao cấp và 100% giấy in chất lượng cao phải nhập khẩu từ Indonesia, Hàn Quốc và Nhật Bản. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc chủ động nguồn vật tư và hiện đại hóa công nghệ đồng bộ ba khâu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đầu tư đồng bộ hóa công nghệ ba công đoạn sản xuất: Các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh cần tập trung nguồn vốn đầu tư chiều sâu vào khâu sau in (máy gấp tự động, máy cắt bế, dây chuyền dán bao bì tự động) và công nghệ in kỹ thuật số tốc độ cao từ 20.000 tờ mỗi giờ. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng ấn phẩm chất lượng cao đạt trên 60% tổng sản lượng toàn thành phố vào năm 2015.

Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm và đẩy mạnh xuất khẩu gia công in: Các cơ sở sản xuất cần tái cấu trúc danh mục ấn phẩm, tập trung nguồn lực vào nhóm sản phẩm bao bì cao cấp, màng phức hợp nhiều lớp và nhãn hàng phục vụ xuất khẩu. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng giá trị sản lượng in 8-10% hàng năm, nâng kim ngạch in gia công xuất khẩu đạt tỷ trọng 9-11% tổng doanh thu ngành in thành phố trong giai đoạn 2010 - 2015.

Thứ ba, chuẩn hóa và nâng cao năng lực nguồn nhân lực: Ban điều hành các doanh nghiệp in cần phối hợp chặt chẽ với Trường Trung cấp Kỹ thuật In và Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thủ Đức nhằm đổi mới giáo trình thực hành, tổ chức đào tạo lại định kỳ cho 100% công nhân vận hành thiết bị điều khiển kỹ thuật số. Mục tiêu hướng tới là nâng mức tăng năng suất lao động bình quân từ 11% đến 16% mỗi năm, đạt giá trị năng suất 655 triệu đồng trên người mỗi năm vào năm 2015.

Thứ tư, hoàn thiện quản lý ngành và chính sách tài chính vĩ mô: Bộ Văn hóa Thông tin cùng Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần xây dựng quy hoạch phân vùng phát triển ngành in, siết chặt công tác thanh kiểm tra để triệt tiêu nạn in lậu và cạnh tranh phá giá. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng cần triển khai gói vay vốn ưu đãi lãi suất trung và dài hạn cho khoảng 20 doanh nghiệp in trọng điểm với quy mô vốn trên 100 tỷ đồng để đổi mới dây chuyền thiết bị.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm các nhà quản trị và ban giám đốc doanh nghiệp in: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận hoạch định chiến lược kinh doanh chuẩn mực, hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa danh mục đầu tư thiết bị, cơ cấu lại dòng sản phẩm nhằm đạt mục tiêu doanh thu toàn ngành vượt mức 2.050 tỷ đồng.

Nhóm thứ hai là các cơ quan quản lý Nhà nước và hiệp hội chuyên ngành: Bộ Văn hóa Thông tin, Sở Thông tin và Truyền thông cùng Hiệp hội In Việt Nam có thể khai thác các luận cứ khoa học để xây dựng quy hoạch tổng thể ngành in, điều tiết hiệu quả mạng lưới hơn 492 cơ sở in trên phạm vi toàn quốc và thiết lập môi trường pháp lý cạnh tranh lành mạnh.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên khối ngành Kinh tế, Quản trị kinh doanh và Kỹ thuật In: Tài liệu đóng vai trò là case study thực chứng điển hình về việc ứng dụng tích hợp các ma trận EFE, IFE, ma trận hình ảnh cạnh tranh và SWOT trong phân tích dữ liệu ngành kinh tế thực tế dựa trên bộ số liệu của 231 doanh nghiệp.

Nhóm thứ tư là các nhà đầu tư và nhà cung ứng nguyên vật liệu ngành in: Các đơn vị cung ứng giấy, mực in và thiết bị chế bản có thể nắm bắt xu hướng tăng trưởng của mảng bao bì nhãn mác (chiếm 35% tỷ trọng) và nhu cầu tiêu thụ của thị trường đạt quy mô 950 tỷ trang in tiêu chuẩn để hoạch định chiến lược phân phối kinh doanh phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

Vị thế cạnh tranh của các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá như thế nào trong ma trận cạnh tranh? Theo ma trận hình ảnh cạnh tranh, các doanh nghiệp in Thành phố Hồ Chí Minh đạt 2.30 điểm, nắm ưu thế về hệ thống máy in offset hiện đại và chiếm hơn 40% sản lượng trang in cả nước. Tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp này vẫn chịu áp lực lớn từ các đơn vị in lớn toàn quốc đạt 3.10 điểm và các nhà in nước ngoài về năng lực vốn và hiệu quả hoạt động marketing.

Tại sao cơ cấu ấn phẩm ngành in lại dịch chuyển mạnh sang phân khúc bao bì nhãn mác? Thực tế giai đoạn 1998 - 2006 cho thấy tỷ trọng in bao bì nhãn mác tăng từ 12% lên 35%, trong khi in sách giảm từ 59% xuống 33%. Nguyên nhân chính là do sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế thị trường, gia tăng sản xuất hàng hóa tiêu dùng và yêu cầu xuất khẩu, thúc đẩy nhu cầu đóng gói và nhận diện thương hiệu sản phẩm.

Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng mất cân đối công nghệ giữa các khâu sản xuất ngành in? Phần lớn các doanh nghiệp in tập trung nguồn vốn đầu tư vào khâu trước in với 36 hệ thống tách màu điện tử và khâu in với hàng ngàn máy offset tự động do khả năng thu hồi vốn nhanh. Ngược lại, khâu sau in đòi hỏi nhiều máy móc chuyên biệt theo từng chủng loại sản phẩm và thời gian hoàn vốn lâu nên chưa được đầu tư thỏa đáng.

Ngành in Thành phố Hồ Chí Minh đặt ra những chỉ tiêu kinh tế trọng tâm nào đến năm 2015? Đến năm 2015, toàn ngành phấn đấu đạt sản lượng 950 tỷ trang in tiêu chuẩn khổ 13x19, nâng doanh thu lên trên 2.050 tỷ đồng, nâng năng suất lao động bình quân đạt 655 triệu đồng trên người mỗi năm, tỷ trọng ấn phẩm cao cấp đạt trên 60% và xuất khẩu gia công in đạt từ 9-11%.

Luận văn đề xuất giải pháp gì để giải quyết tình trạng thiếu hụt nhân lực tay nghề cao? Luận văn khuyến nghị xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và các trường kỹ thuật in, cập nhật thiết bị thực hành đồng bộ với công nghệ thị trường. Đồng thời, cần tổ chức đào tạo lại cho 18.322 công nhân, tập trung bồi dưỡng kỹ năng điều khiển máy in kỹ thuật số, hệ thống canh chỉnh màu tự động và kỹ năng quản trị kinh doanh hiện đại.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về quản trị chiến lược ngành và doanh nghiệp, áp dụng thành công mô hình ma trận chiến lược toàn diện trong phân tích thực tế sản xuất kinh doanh ngành in.
  • Nhận diện chính xác thực trạng phân hóa công nghệ và sự chuyển dịch tỷ trọng ấn phẩm bao bì nhãn mác tăng mạnh lên 35%, chỉ rõ các điểm nghẽn tại khâu sau in và nguồn nhân lực chuyên sâu.
  • Định lượng hóa các chỉ tiêu phát triển then chốt đến năm 2015 với mục tiêu sản lượng toàn ngành đạt 950 tỷ trang in tiêu chuẩn và năng suất lao động đạt 655 triệu đồng trên người mỗi năm.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ từ đổi mới công nghệ, tái cấu trúc thị trường sản phẩm, nâng cao chất lượng nhân sự đến hoàn thiện cơ chế quản lý ngành.
  • Thiết lập lộ trình hành động phân kỳ rõ ràng theo các mốc 2008 - 2010 và định hướng đến năm 2015, tạo tiền đề vững chắc giúp các doanh nghiệp in nâng cao sức cạnh tranh trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế.

Các cấp quản lý doanh nghiệp và cơ quan hoạch định chính sách cần nhanh chóng triển khai ứng dụng khung chiến lược này vào thực tiễn quản trị nhằm đưa ngành in Thành phố Hồ Chí Minh bứt phá thành ngành công nghiệp mũi nhọn hàng đầu khu vực.