CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH DỊCH VỤ ĐÀO TẠO Trong nền kinh tế thị trường với những điều kiện cạnh tranh gay gắt ngày nay, mục tiêu của các doanh nghiệp không chỉ là lợi nhuận tối đa, mà còn có mục tiêu ổn định và phát triển bền vững. Để đảm bảo sự định hướng sản xuất kinh doanh và thành công, doanh nghiệp không thể không quan tâm đến việc họach định chiến lược kinh doanh. Tuy nhiên, qua một khảo sát trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) ở Việt nam thì hầu hết các doanh nghiệp SME chưa quan tâm đến hoach định chiến lược kinh doanh (lâu dài) trong doanh nghiệp, mà thông thường chỉ đưa ra các quyết định mang tính giải pháp tình thế trong các tình huống quản lý cấp thời. Vậy, nên hiểu như thế nào về chiến lược kinh doanh và quan niệm về hoạch định chiến lược kinh doanh hiện nay như thế nào? 1.1 Chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm chiến lược (strategy) Theo tự điển Larouse thì :”Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để chiến thắng”.
Đối với nhà kinh tế Micheal Porter thì “Chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ”. Rõ ràng là đối với các nhà kinh tế, làm kinh doanh là một cái gì đó lớn hơn, rộng hơn là một khoa học quản lý đơn thuần. Với quan điểm của K.Ohmae : “Mục đích của chiến lược kinh doanh là mang một điều kiện thuận lợi nhất cho một phía, đánh giá đúng thời điểm tấn công hay rút lui, xác định ranh giới của sự thỏa hiệp”. Hay - 11 - Alfred Chandler quan niệm rằng :” Chiến lược kinh doanh là xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của DN, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đó”.Quinn: “Chiến lược kinh doanh là 1 dạng thức, hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các hành động thành một tổng thể dính kết lại với nhau”.Gluech: ”Chiến lược kinh doanh là 1 kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo các mục tiêu cơ bản của DN sẽ được thực hiện”.
Tóm lại, chiến lược kinh doanh là một phạm trù của Khoa học quản lý, là công cụ cạnh tranh, mục đích của nó là đảm bảo thắng lợi trứơc đối thủ cạnh tranh. Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp được hiểu là tập hợp thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các họat động của các dơn vị kinh doanh trong chiến lược tổng thể của doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh giúp DN duy trì mối quan hệ chặt chẽ giữa 1 bên là nguồn lực và các mục tiêu của DN, một bên là các cơ hội và vị thế cạnh tranh trên thị trường. Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là tập hợp các quyết định có ảnh hưởng rất lớn đến vị thế của doanh nghiệp trog môi trường vá vai trò của doanh nghiệp trong việc kiểm sóat môi trường.
Chiến lược của một doanh nghiệp bao gồm nhiều chiến lược chức năng. Barreyre (1976) đưa ra 6 chiến lược chức năng, trong đó chiến lược sản xuất và chiến lược thương mại đóng vai trò trung tâm, là cơ sở để xây dựng các chiến lược chức năng khác. - 12 - Các chiến lược này tác động qua lại với nhau, chiến lược này là tiền đề để xây dựng chiến lược kia và việc thực hiện một chiến lược sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện các chiến lược còn lại. Chiến lược kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của DN: - Giúp DN thấy rõ mục đích hướng đi của mình.
Làm cơ sở cho việc hoạch định các phương án kinh doanh, những hành động cụ thể. - Giúp DN nhận biết các cơ hội và nguy cơ trong tương lai, từ đó đưa ra các quyết định, chiến lược ứng xử đúng đắn phù hợp với biến đổi của môi trường, đảm bảo SXKD đạt hiệu quả tối ưu. - Giúp DN tạo thế chủ động tác động môi trường, làm thay đổi môi trường có lợi cho DN. - 13 - - Cho phép tập trung nguồn lực và phân phối có hiệu quả thời gian và nguồn lực cho các lĩnh vực hoạt động khác nhau.
- Giúp DN tăng cường và nâng cao vị thế cạnh tranh. Giảm thiểu rủi ro, tăng hiệu quả quản lý, tăng năng suất lao động, … đảm bảo phát triển bền vững.2 Quản lý chiến lược : Quản lý chiến lược là quá trình quản lý việc thực hiện chức năng , nhiệm vụ và mục tiêu dài hạn của một tổ chức trong mối quan hệ của tổ chức đó với môi trường bên ngòai. Từ việc chẩn đóan những biến đổi của môi trường, đánh giá tiềm năng của doanh nghiệp đến việc đưa ra các định hướng chiến lược (P – Plan), tổ chức thực hiện (D – Do), kiểm tra (C – Check), điều chỉnh chiến lược (A – Action) khi có những yếu tố tác động thay đổi ngòai dự kiến.2 : CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI HỌAT ĐỘNG SX-KD CỦA DOANH NGHIỆP - 14 - Quản trị chiến lược kinh doanh là hành vi ứng xử của DN với môi trường, trong điều kiện có cạnh tranh. Đó là quá trình nghiên cứu các môi trường hiện tại và tương lai, họach định các mục tiêu của DN, thực hiện và kiểm tra vệc thực hiện các quyết định nhằm đạt được mục tiêu đó trong môi trường hiện tại cũng như trng tương lai.
Mục đích của quản lý chiến lược là nhằm tạo ra ưu thế trước đối thủ cạnh tranh, là quá trình xây dựng tiềm năng thành công của DN.3 Hoạch định chiến lược : Họach định chiến lược giúp các DN đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài, tổng thể và bộ phận. Một chiến lược vững mạnh, luôn cần đến khả năng điều hành linh hoạt, sử dụng tối ưu các nguồn lực của doanh nghiệp. Hoạch định chiến lược kinh doanh thực chất là hướng vào trả lời 4 câu hỏi quan trọng: Hiện nay DN đang đứng ở vị trí nào ? DN muốn hướng đến đâu ? Sẽ đi đến đó bằng cách nào? Làm sao kiểm soát được tiến triển của DN ? Môt chiến lược kinh doanh được họach định với hai nhiệm vụ quan trọng, có quan hệ mật thiết với nhau là : việc hình thành chiến lược và thực hiện chiến lược. Hai nhiệm vụ này được cụ thể hóa qua 3 giai đọan tạo thành môt chu trình khép kín : - Giai đọan xây dựng và phân tích chiến lược kinh doanh: là quá trình phân tích hiện trạng, dự báo tương lai, chọn lựa và xây dựng những chiến lược phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp.
- Giai đọan triển khai thực hiện chiến lược kinh doanh: là quá trình triển khai các mục tiêu chiến lược vào các họat động của doanh nghiệp. - 15 - - Giai đọan kiểm tra và thích nghi chiến lược : là quá trình kiểm tra, đánh giá và kiểm sóat kết quả, tìm các giải pháp tích nghi chiến lược với hòan cảnh môi trường, điều chỉnh kịp thời các sai sót trong quá tình thực hiện chiến lược (đối với mục tiêu của DN).4 Kiểm soát chiến lược : Mục đích của việc họach định chiến lược kinh doanh là “dự kiến tương lai trong hiện tại”. Quá trình vận hành phải gắn liền với quá trình điều chỉnh. Trong quá trình thực hiện có nhiều yếu tố tác động làm cho chiến luợc dịch chuyển khỏi quỹ đạo mục tiêu ban đầu.
Quá trình đó phải có sự kiểm sóat chặt chẽ, hiệu chỉnh trong từng bước đi, điều chỉnh về quỹ đạo mục tiêu mong muốn. Quá trình kiểm sóat chiến lược người ta thường dùng mô hình Vòng tròn Deming P-D-C-A : Hình 1.3 : Mô hình Vòng tròn Deming Trên thực tế, việc thực hiện các bước P-D-C-A theo mô hình liên tiến, lần sau ở mức độ cao hơn lần trước. Kinh doanh trong dịch vụ đào tạo Trong khi các ngành kinh tế đang nhanh chóng chuyển mình từ nền kinh tế kế họach hóa sang kinh tế thị trường, thì ngành giáo dục-đào tạo vẫn là chậm chạp nhất, đặc biệt là các đơn vị đào tạo công lập. Hệ thống giáo dục- đào tạo chỉ đào tạo (cung ứng) cái mà mình có, chứ không phải đào tạo cái mà nền Kinh tế thị trường đang cần.
Chỉ tiêu đào tạo do Bộ (nhà nước) quy định. Chương trình nặng nề, khô cứng, chậm thay đổi. Sản phẩm (những con người được đào tạo) khó sử dụng, không đáp ứng yêu cầu làm việc của xã hội. Tình trạng “vừa thừa, vừa thiếu”, phải tái đào tạo đang gây ra sự lãng phí và bức xúc đối với xã hội.
Về quan điểm xã hội hóa giáo dục-đào tạo (hay thị trường hóa giáo dục- đào tạo ?) là một vấn đề đang còn được tranh luận nhiều. Riêng lĩnh vực giáo dục-đào tạo nguồn nhân lực CNTT, liệu có thể áp dụng các chiến lược kinh doanh được không? Trên thực tế và nhu cầu đòi hỏi của thị trường nhân lực cùng những kinh nghiệm từ các nước tiên tiến cũng như các nước trong khu vực Châu Á cho thấy đây là một quy luật tất yếu. Vấn đề đặt ra là : “ Giáo dục đào tạo” có được coi là một lọai sản phẩm hàng hóa/dịch vụ hay không ? Ở Việt nam hiện nay có nên “thương mại hóa” giáo dục đào tạo hay không ? Nếu kinh doanh thì áp dụng như thế nào ? Mức độ thương mại hóa giáo dục-đào tạo như thế nào chấp nhận được?. Thực tế hiện nay, trước nhu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức, nhu cầu về nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng ngày càng bức thiết, các lọai hình giáo dục-đào tạo đã mở ra khá đa dạng.
Việc các doanh nghiệp cũng tham gia vào lĩnh vực giáo dục đào tạo là tất yếu tạo nên thị trường, thậm chí xuất hiện sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Một số doanh nghiệp đào tạo đã có những chính sách “vượt rào”, không theo những khuôn khổ cứng của Bộ. Do vậy, dù - 17 - muốn hay không yếu tố kinh doanh trong giáo dục-đào tạo cũng là điều tất yếu khách quan, buộc chúng ta phải quan tâm đến việc xây dựng các chiến lược, chính sách phù hợp. Quan niệm về giáo dục-đào tạo trong cơ chế thị trường như thế nào ? 1.1 Một số khái niệm về giáo dục và đào tạo : o Giáo dục-đào tạo là lĩnh vực hoạt động truyền bá và cung cấp cho con người các kiến thức và kỹ năng lao động, tạo cho họ có khả năng chuyển hóa khiến thức và kỹ năng đó thành hành động thực tế.