Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ TÀI CHÍNH VÀ CÔNG TY TÀI CHÍNH 1.Khái niệm Dịch vụ tài chính 1.1 Dịch vụ tài chính là gì? Dịch vụ tài chính bao hàm nhiều lĩnh vực đa dạng và phức tạp. Để hình thành quy tắc ứng xử chung về quan hệ thương mại dịch vụ trong các nước thành viên, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã đưa ra khái niệm dịch vụ tài chính như sau: “Dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào đó có tính chất tài chính, được một nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan tới bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)”. Khái niệm dịch vụ tài chính của WTO được hầu hết các quốc gia thành viên thông qua trong hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS).
Về mặt nguồn gốc, khái niệm dịch vụ tài chính được xây dựng trên cơ sở phân tích quá trình vận động của các dòng tài chính trong nền sản xuất xã hội, từ người cung tài chính đến người cầu tài chính. Trong quá trình này nguồn tài chính luân chuyển với ba hình thức sau: - Gián tiếp qua trung gian tài chính - Trực tiếp không qua môi giới - Trực tiếp qua môi giới. Trường hợp nguồn tài chính luân chuyển gián tiếp qua trung gian tài chính và luân chuyển trực tiếp qua trung gian môi giới, các trung gian này lấy nguồn tài chính làm hàng hóa cho hoạt động kinh doanh của mình. Như vậy, hoạt động kinh doanh của các trung gian này là kinh doanh dịch vụ với hàng hóa là nguồn tài chính.
- 15 - Tóm lại, các hoạt động giao dịch tài chính được thực hiện theo phương thức luân chuyển qua các trung gian (bao gồm cả trung gian tài chính và trung gian môi giới) được gọi là dịch vụ tài chính. Ngoài ra, theo WTO các hoạt động có tác dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển các nguồn tài chính như dịch vụ thanh toán, tư vấn tài chính, xếp hạng tín nhiệm…cũng được xem là dịch vụ tài chính.2 Các loại dịch vụ tài chính 1.1 Dịch vụ tài chính ngân hàng Dịch vụ huy động vốn Dịch vụ huy động vốn là dịch vụ truyền thống và chủ yếu trong hoạt động ngân hàng. Ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác. Riêng các tổ chức tài chính phi ngân hàng (như công ty tài chính) sẽ không được huy động tiền gửi không kỳ hạn.
Dịch vụ cấp tín dụng Đây là dịch vụ đi liền với dịch vụ huy động vốn. Các tổ chức tài chính được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. + Dịch vụ cho vay sản xuất kinh doanh Các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ này nhằm đáp ứng vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ, đời sống thông qua các phương thức cho vay luân chuyển, cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng… - 16 - + Dịch vụ cho vay đầu tư phát triển Thực chất của dịch vụ cho vay đầu tư phát triển là cho vay trung, dài hạn của các tổ chức tài chính để tài trợ cho các doanh nghiệp trong các dự án đầu tư các công trình xây dựng cơ bản mới, cải tạo và mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, khôi phục hoặc thay thế tài sản cố định, cải tiến và hợp lý hóa sản xuất kinh doanh. Đây là hình thức tài trợ đầu tư phổ biến ở các nước đang phát triển.
+ Chiết khấu thương phiếu và các chứng từ có giá khác Thực chất của loại hình dịch vụ này là các tổ chức tài chính mua thương phiếu và chứng từ có giá khác còn trong thời hạn hiệu lực của khách hàng. Người sở hữu thương phiếu khi bán cho các tổ chức tài chính này sẽ nhận được một số tiền nhất định bằng mệnh giá trừ đi tiền chiết khấu, tính theo trị giá chứng từ, thời hạn chiết khấu, lãi suất và các tỷ lệ chiết khấu khác. Người thụ hưởng muốn nhận được số tiền này phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền hưởng lợi cho ngân hàng chiết khấu đối với các chứng từ xin chiết khấu. Ngân hàng sẽ tiến hành thu nợ ở người thu lệnh nếu là hối phiếu, hoặc ở người phát hành nếu là lệnh phiếu khi đến hạn thanh toán.Đây là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, là nghiệp vụ ngân hàng cổ điển ra đời rất sớm và đến ngày nay vẫn được các ngân hàng áp dụng một cách phổ biến.
+ Dịch vụ cho vay tiêu dùng Đây là loại tín dụng sinh hoạt, cho vay để mua hàng tiêu dùng. Xét ở góc độ nghiệp vụ và tính phổ biến của nó, có thể chia thành tín dụng tiêu dùng trực tiếp và tín dụng tiêu dùng gián tiếp: - Các phương thức tín dụng tiêu dùng trực tiếp gồm có tín dụng trả theo kỳ, thấu chi và thẻ tín dụng như sau: - 17 - + Tín dụng trả theo định kỳ: là phương thức khách hàng vay và trả trực tiếp với mức trả và thời hạn trả mỗi lần được quy định khi cho vay. + Thấu chi: là phương thức cho phép một cá nhân rút tiền từ tài khoản vãng lai vượt số dư Có tới một hạn mức đã được thỏa thuận. + Thẻ tín dụng: là phương thức mà ngân hàng phát hành thẻ cho những người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện cấp thẻ và ấn định hạn mức giới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép sử dụng.
Thẻ tín dụng bao gồm thẻ quốc tế (như VISA Card, MASTER Card, JCB, AMERICAN EXPRESS…) và thẻ nội địa như thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Cả hai loại tín dụng trả theo định kỳ và thấu chi đều không cần ký hợp đồng vay mượn mà chỉ cần thông qua một thỏa thuận nghiệp vụ với các nội dung chính: hạn mức, lãi suất, yêu cầu đảm bảo phí các loại, bảo hiểm (nếu cần), thời điểm tái xét thời hạn có hiệu lực của hạn mức, kỳ hạn nợ (nếu có). - Tín dụng tiêu dùng gián tiếp: được hiểu là các hoạt động tín dụng tiêu dùng thông qua việc ngân hàng mua các phiếu bán hàng từ những người bán lẻ hàng hóa và do vậy nó chính là hình thức tài trợ bán trả góp của các ngân hàng thương mại. + Dịch vụ bảo lãnh ngân hàng Là hình thức cam kết của ngân hàng bảo lãnh được lập trên một văn bản để cam kết với bên có quyền (bên thụ hưởng bảo lãnh). Nếu khi đến hạn, bên có nghĩa vụ (bên được bảo lãnh) không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các cam kết đã nêu trong hợp đồng dân sự, thì ngân hàng với tư cách là ngân hàng bảo lãnh sẽ đứng ra thực hiện nghĩa vụ này thay cho bên được bảo lãnh.
Theo luật tổ chức tín dụng thì “ tổ chức tín dụng được bảo lãnh - 18 - bằng uy tín và khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh”. Như vậy, bảo lãnh ngân hàng là bảo lãnh bằng năng lực chi trả. Dịch vụ thanh toán Trong nền sản xuất hàng hóa, sự tồn tại của tiền tệ và lưu thông tiền tệ không chỉ là một tất yếu khách quan mà còn là sự cần thiết để phục vụ cho sự chu chuyển của sản phẩm xã hội để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành một cách bình thường. Chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế hàng hóa được thực hiện dưới hai hình thức: chu chuyển tiền mặt và chu chuyển không dùng tiền mặt.
Chu chuyển tiền mặt ở Việt Nam được thực hiện bởi dấu hiệu Tiền tệ Việt Nam – đó là đồng Việt Nam (VNĐ). Tiền mặt vận động trong lưu thông thực hiện chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán. Còn trong thanh toán không dùng tiền mặt, tiền chỉ thực hiện một chức năng là phương tiện thanh toán. Thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam là quan hệ thanh toán được thực hiện và được tiến hành bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản đơn vị này sang tài khoản đơn vị khác hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị, thông qua cơ quan ngân hàng.
Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ Là dịch vụ trong đó các tổ chức tài chính thực hiện nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ cho chính mình hoặc cho khách hàng của mình nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch tỷ giá. Đây là dịch vụ phổ biến của các ngân hàng trên thế giới và ở Việt Nam. Hoạt động này không chỉ nhằm để đáp ứng nhu cầu thanh toán mà còn đem lại khoản lợi nhuận lớn cho người kinh doanh nó. Tuy nhiên, hoạt động này chứa đựng rủi ro rất cao, nó chịu tác động của nhiều nhân tố như tình hình kinh tế, chính trị, tỷ giá hối đoái, lãi suất….Các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ bao gồm: quyền chọn (Option), giao dịch giao ngay (Spot), giao dịch hoán đổi (Swap), giao dịch kỳ hạn (Forward), - 19 - hợp đồng tương lai (Future), môi giới tài chính và tư vấn tài chính.
Chi tiết cụ thể các nghiệp vụ như sau: + Quyền chọn (Option) Quyền chọn là một công cụ tài chính cho người nắm giữ quyền – nhưng không bắt buộc – bán hoặc mua công cụ tài chính khác với giá thỏa thuận trong một thời gian nhất định gọi là ngày hết hiệu lực (hay ngày đến hạn). Có hai loại quyền chọn: quyền chọn mua và quyền chọn bán. Quyền chọn mua cho phép chủ sở hữu quyền, nhưng không bắt buộc mua tài sản tài chính hoặc hàng hóa cơ sở. Quyền chọn bán thì ngược lại, cho phép chủ sở hữu quyền nhưng không bắt buộc bán tài sản tài chính hoặc hàng hóa cơ sở.
Xét về mặt thời gian thực hiện quyền chọn, hiện nay có 2 hình thức của quyền chọn trên thế giới: quyền chọn kiểu Châu Âu (European style Option) cho phép người mua quyền chọn thực hiện quyền chọn vào ngày đáo hạn, mục đích chính là phòng ngừa rủi ro tỷ giá. Và quyền chọn kiểu Mỹ (American style Option) cho phép người mua quyền chọn thực hiện quyền chọn vào bất cứ thời điểm nào trong khoảng thời gian thỏa thuận của hợp đồng, mục đích chính là nhằm đầu cơ tỷ giá.