Mở Đầu Phần 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạch định chiến lược kinh doanh Phần 2: Nội dung hoạch định chiến lược kinh doanh của Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị để triển khai chiến lược kinh doanh của Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí Kết luận 4 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 1.1 Các khái niệm cơ bản 1.1 Chiến lược Chiến lược được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực quân sự sau đó sử dụng rộng rãi sang các lĩnh vực khác của xã hội. Ngày nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược, ta có thể tham khảo đến như: Theo Henderson (1970) : “Chiến lược là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn”. Theo Scholes và cộng sự (1999): “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn, nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định hướng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan”.
Theo F David (2008): “Chiến lược là tập hợp các quyết định và hành động cho phép dự đoán trước, hoặc ít nhất là dự báo một tương lai có thể nhìn thấy trước nhưng vẫn còn đầy bất trắc và rủi ro”. Scholes (2004): "Chiến lược bao hàm các mục tiêu cơ bản, dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động hoặc phân bổ các nguồn lực thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó” Có thể thấy chiến lược được hiểu một cách đơn giản nhất chính là những kế hoạch được thiết lập hay thứ tự những hành động được thực hiện để hoàn thành các mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển cần có những chiến lược đúng đắn, hiệu quả và hợp lý nhất. Căn cứ vào cấp độ quản lý khác nhau trong một doanh nghiệp mà hình thành nên ba cấp chiến lược được quản lý thống nhất từ trên xuống dưới, bao gồm: - Chiến lược cấp công ty: Do hội đồng quản trị xây dựng.
Chiến lược cấp công ty bao hàm việc xác định xác mục tiêu, các dạng hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ tiến hành và cách thức quản lý và phối kết hợp các hoạt động, trả lời câu hỏi then chốt: “Doanh nghiệp đã, đang và sẽ hoạt động trong ngành hoặc những ngành kinh doanh nào?”. Ở cấp độ này, mục tiêu của chiến lược là khả năng phát triển về lâu 5 dài và tạo ra lợi nhuận lớn nhất giúp cho công ty có thể tồn tại và phát triển. - Chiến lược cấp kinh doanh: tập trung vào việc định vị hoạt động kinh doanh để cạnh tranh, việc làm thế nào để một doanh nghiệp/một hoạt động kinh doanh có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường (hoặc phân đoạn thị trường) cụ thể. Chiến lược cấp kinh doanh phải chỉ ra cách thức cạnh tranh trong các ngành kinh doanh khác nhau, dự đoán những thay đổi của nhu cầu, những tiến bộ khoa học công nghệ, xác định vị trí cạnh tranh cho các SBU và làm thế nào để phân bố các nguồn lực hiệu quả.
- Chiến lược cấp chức năng: liên quan tới các quy trình tác nghiệp của hoạt động kinh doanh và các bộ phận chuỗi giá trị, việc từng bộ phận chức năng (sản xuất, nghiên cứu và phát triển, marketing, tài chính,.) trong doanh nghiệp sẽ được tổ chức như thế nào để thực hiện được phương hướng chiến lược ở cấp độ doanh nghiệp và từng đơn vị kinh doanh trong doanh nghiệp. Chiến lược cấp chức năng đóng vai trò như yếu tố đầu vào cho chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược cấp công ty. * Các yếu tố cấu thành chiến lược Một chiến lược kinh doanh phải có sáu yếu tố: mục tiêu chiến lược, phạm vi chiến lược, lợi thế cạnh tranh ,thời gian thực hiện, xác định vị thế và năng lực cốt lõi của doanh nghiệp. Các yếu tố này đòi hỏi một sự nhất quán và ăn khớp với nhau.
Mục tiêu chiến lược: Một chiến lược kinh doanh cần bắt đầu bằng việc xác định các mục tiêu chiến lược. Những kỳ vọng về kết quả mà chiến lược kinh doanh được xác lập để thực hiện chúng. Các mục tiêu chiến lược sẽ giúp định hướng cho các hoạt động của doanh nghiệp nhầm đạt được mục tiêu đề ra. Mục tiêu phải cụ thể, có thể đo lường được bằng các chỉ số định lượng và phù hợp với nguồn lực, năng lực thực tế của doanh nghiệp.
Phạm vi chiến lược: Do nguồn lực của doanh nghiệp là hữu hạn nên rất khó có thể tập trung vào thỏa mãn tất cả các nhu cầu ở tất cả các phân khúc thị trường vì nếu làm như vậy doanh nghiệp sẽ phải phân tán nguồn lực và nỗ lực. Vì vậy, một chiến lược kinh doanh hiệu quả sẽ cần phải đặt ra giới hạn về khách hàng, sản phẩm, khu vực địa lý hoặc chuỗi giá trị trong ngành để có sự tập trung và thỏa mãn tốt nhất nhu cầu khách hàng. Những giới hạn đó gọi là phạm vi chiến lược. Lợi thế cạnh tranh: Một chiến lược tốt là phải mang lại lợi thế cạnh tranh hay tính khác biệt cho doanh nghiệp, từ đó có thể nâng cao năng lực cạnh tranh và mang lại nhiều lợi ích hơn cho doanh nghiệp.
6 Phương hướng hoạt động trong thời gian dài hạn của doanh nghiệp: Chiến lược là định hướng dài hạn của doanh nghiệp. Các quyết định chiến lược là các quyết định cho tương lai nên sẽ cần thời gian dài để thực hiện và hoàn thành. Năng lực cốt lõi: Năng lực cốt lõi là khả năng triển khai các hoạt động với sự vượt trội so với đối thủ cạnh tranh về chất lượng hoặc hiệu suất, Trong hoạt động kinh doanh phải xác định được năng lực cốt lõi trực tiếp đóng góp vào việc tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững đã xác định của doanh nghiệp. Xác định vị thế của doanh nghiệp: Chiến lược của doanh nghiệp hình thành từ sự biến động liên tục của môi trường cạnh tranh.
Vì vậy chiến lược phải cho phép xác định vị thế của danh nghiệp. Ví dụ: Doanh nghiệp có quy mô nhỏ, việc xác lập vị thế này đòi hỏi phải lựa chọn một hay một vài phân đoạn thị trường ngách, tuy nhiên đối với doanh nghiệp lớn, tập đoàn kinh tế mạnh thì việc xác định vị thế chiến lược có thể đến từ việc mua lại những doanh nghiệp đã có vị thế mạnh trên thị trường của các lĩnh vực kinh doanh khác nhau.2 Chiến lược kinh doanh Nền kinh tế thị trường ngày một phát triển, nhiều doanh nghiệp sẽ cùng nhau cạnh tranh với các doanh nghiệp khác nhau trong cùng môi trường kinh doanh. Để có thể tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp cần có những chiến lược kinh doanh để nâng cao năng lực canh tranh của doanh nghiệp mình. Thực tế là hiện nay chưa có một khái niệm chung nhất về chiến lược kinh doanh (CLKD).
Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là một trong những thuật ngữ bắt đầu được phổ biến trong các sách lí luận và thực tiện quản trị kinh doanh (QTKD) từ những năm 60 thế kỷ trước ở các nước tư bản Châu Âu & Mỹ và từ nửa cuối thập kỷ 90 thế kỷ trước ở Việt Nam. Có nhiều cách nhìn nhận và định nghĩa khác nhau tùy theo giai đoạn phát triển, bối cảnh và tình thế ngành kinh doanh cụ thể như: Theo Porter (1985) cho rằng: “Chiến lược kinh doanh còn được gọi là chiến lược cạnh tranh, được hiểu là các công cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập vị thế chiến lược nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn của một tổ chức". David (2008): “Chiến lược kinh doanh là tập hợp những quyết định và hành động kinh doanh hướng mục tiêu để các nguồn lực của công ty đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài ". Kapoor & Furr (2015) cho rằng: “Chiến lược kinh doanh là một tập hợp các cam kết và hành động được tích hợp và phối hợp mà doanh nghiệp sử dụng để đạt được lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi trong các thị 7 trường sản phẩm cụ thể”.
Khái quát một cách hiểu phổ biến ta có thể xác định: "Chiến lược kinh doanh được hiểu là chiến lược cạnh tranh gồm các công cụ, giải pháp, nguồn lực để xác lập vị thế chiến lược cho các SBU nhằm đạt được mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp". Ta có thể nhận diện chiến lược kinh doanh bao gồm các quyết định về không gian thị trường mục tiêu, lựa chọn cường độ đầu tư và quy hoạch nguồn lực cho các SBU, các định hướng chiến lược chức năng (sản xuất, thương mại, hạ tầng công nghệ, tài chính, hệ thống thông tin, R&D, tổ chức và nhân lực, hội nhập và quan hệ quốc tế), các tài sản, khả năng và năng lực hợp tác, cộng sinh (synergies) được huy động để tạo lập lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp.3 Hoạch định chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh là một vấn đề rất rộng lớn và phong phú về nội dung và thực tiễn, vì thế mà hoạch định chiến lược kinh doanh cũng có nhiều cách tiếp cận và nhiều quan niệm khác nhau tùy theo góc nhìn của từng tác giả, cụ thể như: Theo M. Porter (1987): “Hoạch định chiến lược là một quá trình thiết lập nhiệm vụ kinh doanh; thực hiện điều tra nghiên cứu để xác định các cơ hội/thách thức, điểm mạnh/điểm yếu bên ngoài và bên trong doanh nghiệp; đề ra các mục tiêu dài hạn và lựa chọn các chiến lược để thay thế mà những vấn đề cụ thể trong đó được giải quyết theo một cách thức hợp lý". Theo Anthony (2002): “Hoạch định chiến lược kinh doanh là một quá trình quyết định các mục tiêu của doanh nghiệp về những thay đổi trong các mục tiêu, về sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu, các chính sách để quản lý thành quả hiện tại, sử dụng và sắp xếp các nguồn lực”.
Theo Denning (2003): "Hoạch định chiến lược kinh doanh là xác định tình thể kinh doanh trong tương lai có liên quan đặc biệt tới tình trạng sản phẩm - thị trường, khả năng sinh lợi, quy mô, tốc độ đổi mới, mối quan hệ với lãnh đạo, người lao động và công việc kinh doanh".