CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Cho vay đối với khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về cho vay đối với khách hàng cá nhân Cho vay là một hoạt động truyền thống và chủ chốt của ngân hàng thương mại, thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản và mang lại nguồn thu nhập từ lãi cao nhất. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Đối tượng vay vốn của ngân hàng thương mại bao gồm cả pháp nhân và cá nhân, trong đó, khách hàng cá nhân ngày càng giữ vai trò quan trọng và đóng góp đáng kể vào hoạt động cho vay của ngân hàng. Theo Phan Thị Thu Hà (2023), “Cho vay là việc ngân hàng cấp tiền cho khách hàng với cam kết phải trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Ngân hàng có thể cho vay bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản, tiền có thể chuyển tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng’’. Còn theo thông tư 12/2024/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (2024) “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho tổ chức tín dụng’’.
Cho vay là một hình thức cơ bản của hoạt động tín dụng. Ngân hàng thương mại nào hoạt động cũng có hình thức cho vay. Ngân hàng trực tiếp giao tiền hoặc giao qua tài khoản cho khách hàng sử dụng số tiền vay đó. Khách hàng sau khi vay tiền không được tùy ý sử dụng mà phải sử dụng theo đúng mục đích và thời gian nhất định.
Mục đích sử dụng tiền và thời gian sử dụng đã được ngân hàng và khách hàng cùng thống nhất thông qua và được kí kết thành hợp đồng. Theo hợp đồng được ký kết ngân hàng phải cung cấp tiền cho khách hàng đủ và đúng thời gian quy định và theo đó khách hàng phải đảm bảo trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng thời hạn. Từ các khái niệm cho vay của NHTM ta có thể hiểu cho vay khách hàng cá nhân của NHTM là hình thức cấp tín dụng, trong đó ngân hàng thỏa thuận để khách hàng là cá nhân sử dụng một khoản tiền với mục đích kinh doanh hay tiêu dùng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Đặc điểm của cho vay đối với khách hàng cá nhân Cho vay KHCN có những đặc điểm riêng thể hiện sự khác biệt với các loại hình cho vay khác như sau: Về đối tượng cho vay: là các cá nhân, hộ gia đình.
Về quy mô khoản vay: vì là các cá nhân, hộ gia đình đi vay, nên hầu hết các khoản cho vay KHCN thường có quy mô nhỏ nhưng số lượng khoản vay lại rất lớn, nhu cầu vay vốn cũng rất đa dạng, phong phú tùy theo đặc điểm của môi trường kinh tế, văn hóa, đĩa lý, xã hội trên từng địa bàn mà có sự khác nhau. Đối với ngân hàng thương mại định hướng phát triển cho vay khách hàng cá nhân thường có số lượng các khoản vay lớn. Về mục đích vay: nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng phục vụ đời sống (mua nhà để ở, xây dựng sửa chữa nhà ở, mua sắm thiết bị đồ dùng gia đình, mua phương tiện đi lại, thanh toán chi phí học tập, giải trí du lịch, chữa bệnh …) hoặc sản xuất kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình. Do đó, các sản phẩm vay dành cho KHCN tương đối đa dạng, liên tục thay đổi, tuy nhiên cũng rất dễ bắt chước và không có bản quyền trên thị trường tài chính.
Ngoài ra, nhu cầu vay còn phụ thuộc vào hành vi, tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế của thị trường. Khi nền kinh tế có sự tăng trưởng cao và ổn định, KHCN sẽ có thái độ lạc quan, họ kỳ vọng sẽ có khoản thu nhập nhiều hơn trong tương lai và do vậy sẽ thúc đẩy sự chi tiêu cho tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh ở hiện tại, đẩy mạnh nhu cầu vay vốn cá nhân. Tuy nhiên, khi nền kinh tế gặp biến động mạnh, hoặc suy thoái người dân thường có xu hướng thắt giảm chi tiêu, giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó là sẽ tăng cường tiết kiệm và hạn chế vay mượn từ ngân hàng. Về chi phí cho vay: hiện nay các NHTM đều đẩy mạnh phát triển các dịch vụ bán lẻ, chi phí mà ngân hàng bỏ ra để truyền thông, tiếp thị tới khách hàng cũng như kết hợp công nghệ để làm giàu thông tin khách hàng, nghiên cứu phân tích hành vi, gợi mở nhu cầu cho vay đối với KHCN thường lớn, tiêu tốn về tiền bạc, thời gian, nhân lực, mạng lưới để xây dựng, phát triển và quản lý.
Ngoài ra các công tác như thẩm định, định giá tài sản, xác định nhu cầu vay thực tế, giám sát sau giải ngân cũng tốn nhiều thời gian và nhân lực để thực hiện vì dù khoản vay quy mô to hay nhỏ cũng đều trải qua các bước, quy trình giống nhau với số lượng nhân sự tham gia là tương đồng. Về lãi suất cho vay: do đa phần quy mô của các khoản vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí trung bình để cho vay 1 khoản vay KHCN như đã phân tích thường cao, do 5 vậy, lãi suất cho vay KHCN cao hơn lãi suất các khoản cho vay KHDN khác tại cùng một ngân hàng 1. Phân loại cho vay đối với khách hàng cá nhân Trên cơ sở yêu cầu và mục đích quản lý của NHTM, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân được phân loại theo nhiều hình thức khác nhau. Việc phân loại cho vay KHCN chủ yếu nhằm mục đích quản lý các khoản vay đạt hiệu quả cao, nhất là khi mà các hoạt động dịch vụ của ngân hàng ngày càng được phát triển mạnh, nhiều hình thức cho vay mới ra đời để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của các khách hàng cá nhân.
Cho vay KHCN được phân loại theo các tiêu thức sau: - Căn cứ theo thời hạn cho vay: + Cho vay ngắn hạn: là cho vay có thời hạn 1 năm trở xuống và được sử dụng để bổ sung, bù đắp thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân, hộ kinh doanh + Cho vay trung hạn: là cho vay từ trên 1 năm đến 5 năm để đầu tư mua sắm tài sản cố định, mở rộng kinh doanh, xây dựng mới…. với quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Bên cạnh đó nó còn được dùng đầu tư vào tài sản lưu động thường xuyên của cá nhân, hộ kinh doanh khi bắt đầu kinh doanh. + Cho vay dài hạn: là cho vay từ trên 5 năm, tối đa có thể lên đến 20, 30 năm.
Loại cho vay này thường dùng để đáp ứng các nhu cầu vốn dài hạn như mua bán, xây dựng nhà ở, nhà xướng kinh doanh,. giá trị khoản vay khá lớn. Do thời hạn vay dài nên khoản vay dài hạn tiềm ẩn các rủi ro khó đoán trước được. - Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn: + Cho vay phục vụ mục đích cư trú: là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cá nhân, hộ gia đình.
Đặc điểm của các khoản vay này là thời gian dài và giá trị khoản vay là tương đối lớn. + Cho vay phục vụ mục đích tiêu dùng: là các khoản cho vay phục vụ đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng sinh hoạt, du lịch, học hành, giải trí,… Đặc điểm của khoản vay này là quy mô nhỏ, thời gian ngắn, rủi ro thấp hơn cho vay phục vụ mục đích cư trú. + Cho vay phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh: là các khoản cho vay để thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh nhỏ ở từng hộ gia đình, vay để buôn bán, thuê cửa hàng, kinh doanh… Đặc điểm của các khoản cho vay này là không cố định thời 6 hạn, qui mô phụ thuộc vào phương án kinh doanh của khách hàng, rủi ro của khoản cho vay này rất cao, và có khả năng xảy ra rủi ro đạo đức. - Căn cứ vào phương thức hoàn trả: + Cho vay KHCN gốc trả một lần khi đáo hạn: là các khoản vay ngắn hạn của cá nhân, hộ kinh doanh để đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn.
Qui mô của món vay là tương đối nhỏ, các khoản vay trả một lần thường ngắn hạn, để phục vụ các nhu cầu vốn như, mua sắm các dụng cụ gia đình, sửa chữa ô tô, nhà ở, kinh doanh … + Cho vay trả góp: là khoản cho vay mà nợ gốc được thanh toán làm hai hoặc nhiều lần liên tiếp (định kỳ theo tháng hoặc quý). Khoản cho vay được trả làm nhiều lần theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng, phương thức này được dùng để tài trợ cho việc mua sắm các vật dụng có giá trị cao như đất ở, ô tô, nhà,… hoặc để tài trợ cho các phương án sản xuất kinh doanh, thuê cửa hàng, mua sắm các tài sản,… Các khoản cho vay trả góp hiện này phổ biến nhất là cho vay tiêu dùng với lãi suất thả nổi. Điều này xuất phát từ việc khả năng tài chính của khách hàng không đủ để chi trả khoản vay một lần duy nhất thêm vào đó việc định kỳ trả nợ vào mỗi tháng hay đến kỳ lương là thuận lợi hơn. Hình thức cho vay này lại được chia nhỏ thành: cho vay trả gốc và lãi hàng tháng đều nhau (niên kim cố định), trả gốc hàng tháng bằng nhau, lãi trả theo số dư gốc (niên kim không cố định).
Việc chia nhỏ khoản vay để trả góp giúp các KHCN không có đủ khả năng tài chính để chi trả một lần duy nhất có cơ hội sở hữu tài sản, cơ hội kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của mình nhờ đòn bẩy tài chính của ngân hàng. + Cho vay theo hạn mức thấu chi, thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng ngân hàng ngày càng trở nên phổ biến và được chấp nhận sử dụng rộng khắp.