phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, sơ đồ, tài liệu tham khảo,…, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chƣơng và có kết cấu nhƣ sau: Chƣơng 1. Những vấn đề cơ bản về nợ phải thu và quản lý nợ phải thu của doanh nghiệp. Thực trạng quản lý nợ phải thu của Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Thái Bình. Một số giải pháp quản lý nợ phải thu của Công ty Cổ phần Xăng dầu Dầu khí Thái Bình.
3 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ PHẢI THU VÀ QUẢN LÝ NỢ PHẢI THU CỦA DOANH NGHIỆP 1. NỢ PHẢI THU CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm Nợ phải thu là các khoản phải thu từ khách hàng, thể hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng hoá, dịch vụ dƣới hình thức tín dụng thƣơng mại. Ngoài ra, trong một số trƣờng hợp mua sắm vật tƣ, doanh nghiệp còn phải ứng trƣớc tiền cho ngƣời cung cấp từ đó hình thành các khoản ứng trƣớc cho ngƣời bán.
Bên cạnh đó còn các khoản tạm ứng của cán bộ công nhân viên và các khoản phải thu khác. Trong bài “Vai trò tín dụng thƣơng mại của doanh nghiệp đối với nền kinh tế thị trƣờng” tác giả Trần Ái Kết định nghĩa “Tín dụng thương mại là một thỏa thuận giữa người mua và người bán, trong đó người bán cho phép thanh toán chậm cho sản phẩm của mình thay vì thanh toán bằng tiền mặt” [13]. Qua bảng cân đối kế toán ta nhận thấy nợ phải thu là tài sản của doanh nghiệp. Nó phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp khi thực hiện việc cung cấp sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ cũng nhƣ một số trƣờng hợp khác liên quan đến bộ phận vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng tạm thời nhƣ cho mƣợn ngắn hạn, chi hộ cho đơn vị bạn hoặc cấp trên, giá trị tài sản thuế mà chƣa xử lý.
Tóm lại, nợ phải thu là số tài sản của đơn vị nhƣng đang bị các tổ chức hay tập thể, cá nhân khác chiếm dụng mà đơn vị có quyền thu hồi. Những tài sản đó là những khoản phát sinh trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với các đối tác. Phân loại nợ phải thu Vì nợ phải thu là mối quan hệ giữa chủ nợ - khách nợ thông qua đối tƣợng nợ. Đối tƣợng nợ ở đây chính là những khoản tiền, giá trị mà khách nợ đang chiếm dụng của công ty và chƣa thanh toán.
Để tiện theo dõi các khoản phải thu ta có thể 4 phân loại nợ phải thu theo khách nợ. Nợ phải thu bao gồm: phải thu khách hàng, trả trƣớc cho ngƣời bán, phải thu nội bộ và các khoản phải thu khác. Trong đó phải thu khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nợ phải thu thƣờng xuyên phát sinh trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hoá và cũng là khoản phải thu gặp nhiều rủi ro về khả năng thu hồi vốn. Chính vì thế nghiệp vụ quản lý nợ tập trung chủ yếu về quản lý các khoản phải thu khách hàng và các khoản trả trƣớc cho nhà cung cấp.
Do đó trong luận văn này tác giả đi sâu phân tích về khoản phải thu khách hàng và quản lý nợ phải thu khách hàng. Nợ phải thu bao gồm: 1. Phải thu khách hàng Phải thu khách hàng là khoản tiền mà khách hàng chƣa thanh toán cho doanh nghiệp khi mua hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Tuỳ theo khả năng thu hồi, thời gian thu hồi, hình thức bảo đảm, khách nợ thì các khoản phải thu khách hàng lại đƣợc phân ra nhƣ sau: a) Phân loại theo khả năng thu hồi - Nợ có khả năng thu hồi: Đây là những khoản phải thu trong hạn thanh toán và khách hàng vẫn đang hoạt động kinh doanh tốt.
- Nợ khó đòi: Tại khoản 3 điều 3 Nghị định 206/2013/NĐ-CP định nghĩa “Nợ phải thu khó đòi” là các khoản nợ phải thu đã quá thời hạn thanh toán trên 06 tháng (tính theo thời hạn trả nợ ban đầu, không kể thời gian gia hạn trả nợ), doanh nghiệp đã áp dụng các biện pháp xử lý nhƣ đối chiếu xác nhận, đôn đốc thanh toán nhƣng doanh nghiệp vẫn chƣa thu hồi đƣợc; hoặc là các khoản nợ phải thu chƣa đến thời hạn thanh toán nhƣng khách nợ là tổ chức kinh tế đã lâm vào tình trạng phá sản, đang làm thủ tục giải thể, ngƣời nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy tố, giam giữ, xét xử, đang thi hành án hoặc đã chết” [19] - Nợ không có khả năng thu hồi: Tại khoản 4 điều 3 Nghị định 206/2013/NĐ-CP định nghĩa “nợ không có khả năng thu hồi là các khoản nợ phải thu quá thời hạn thanh toán hoặc chƣa đến thời 5 hạn thanh toán thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây: + Khách nợ là doanh nghiệp, tổ chức đã hoàn thành việc giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật. + Khách nợ là doanh nghiệp, tổ chức đã ngừng hoạt động và không có khả năng chi trả, không có ngƣời kế thừa nghĩa vụ trả nợ. + Khách nợ là cá nhân đã chết, mất tích, cá nhân còn sống nhƣng không còn khả năng lao động hoặc mất năng lực hành vi dân sự, hoặc ngƣời thừa kế theo luật nhƣng không có khả năng chi trả. + Khách nợ đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền Quyết định cho xóa nợ theo quy định của pháp luật.
+ Khoản chênh lệch còn lại của các khoản nợ không thu hồi đƣợc sau khi đã xử lý trách nhiệm cá nhân, tập thể phải bồi thƣờng vật chất. + Các khoản nợ phải thu đã quá thời hạn thanh toán từ 01 năm trở lên, tuy khách nợ còn tồn tại, đang hoạt động nhƣng kinh doanh thua lỗ liên tục từ 03 năm trở lên và quá khó khăn, hoàn toàn không có khả năng thanh toán, doanh nghiệp đã tích cực áp dụng các biện pháp nhƣng vẫn không thu đƣợc nợ” [19] Việc xếp loại nợ phải thu khách hàng vào nhóm nợ nào là rất quan trọng vì nó liên quan tới việc quản trị và xử lý khoản nợ đó khi khách hàng không thể trả nợ đƣợc, doanh nghiệp sẽ phải bỏ ra khoản chi phí cho việc thu hồi và phải trích lập dự phòng đề phòng rủi ro không thu hồi đƣợc nợ và có những biện pháp xử lý kịp thời tránh tổn thất cho doanh nghiệp. b) Phân loại theo thời gian thu hồi - Nợ trong hạn là những khoản tiền hàng mà khách hàng chƣa thanh toán cho doanh nghiệp nhƣng vẫn còn trong thời hạn qui định trong hợp đồng mua bán thì đƣợc coi là những khoản phải thu trong hạn. Thời hạn qui định trong hợp đồng đƣợc doanh nghiệp và khách hàng thoả thuận khi bắt đầu ký hợp đồng mua bán trao đổi hàng hoá.
Thời hạn này đƣợc qui định tuỳ theo từng đối tƣợng khách hàng. - Nợ quá hạn là những khoản nợ phải thu đã vƣợt quá thời hạn qui định trả nợ trong hợp đồng trao đổi hàng hoá mà khách nợ vẫn chƣa thanh toán tiền cho 6 doanh nghiệp. Đối với những khoản nợ này thì rủi ro không thu hồi đƣợc nợ là rất cao do khi gần đến hạn thanh toán thƣờng doanh nghiệp sẽ có những biện pháp đối chiếu, đôn đốc khách nợ thanh toán tiền hàng nhƣng khách hàng vẫn chƣa thanh toán đƣợc khi thời hạn thanh toán đã hết chứng tỏ những khoản nợ này có vấn đề và cần phải theo dõi để xử lý kịp thời. c) Phân loại theo hình thức đảm bảo - Nợ có bảo đảm là những khoản nợ đƣợc bảo đảm bằng bảo lãnh ngân hàng, thế chấp, cầm cố tài sản, khi khách nợ không có khả năng trả nợ thì chủ nợ yêu cầu ngân hàng bảo lãnh thanh toán thay hoặc phát mại tài sản thế chấp, cầm cố để thu nợ.
Hình thức này thƣờng áp dụng với những khách hàng mới mà chủ nợ chƣa nắm đƣợc tình hình hoạt động kinh doanh của họ hoặc với những khách hàng có năng lực tài chính yếu, không có uy tín, thƣờng xuyên thanh toán không đúng hạn. - Nợ không có bảo đảm là những khoản nợ tín chấp, không đƣợc các ngân hàng bảo lãnh thanh toán, không có tài sản thế chấp, cầm cố. Hình thức này thƣờng áp dụng với những khách hàng truyền thống của doanh nghiệp đã có quan hệ hợp tác kinh doanh là bạn hàng của nhau trong nhiều năm có uy tín trong hoạt động kinh doanh. Đây là những khách hàng lớn không chỉ có uy tín với doanh nghiệp mà còn có uy tín với các doanh nghiệp khác trên thị trƣờng.
Trả trước cho người bán Trả trƣớc cho ngƣời bán là khoản tiền mà doanh nghiệp đặt trƣớc cho ngƣời bán để nhận hàng nhằm mục đích nhận chiết khấu từ phía khách hàng là nhà cung cấp. Doanh nghiệp trả tiền hàng trƣớc cho ngƣời bán còn nhằm mục đích đảm bảo nhận đƣợc hàng khi thị trƣờng đang khan hiếm hàng hoá đó, khi nhà cung cấp có quá nhiều đối tƣợng muốn mua hàng. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động ít doanh nghiệp đặt tiền hàng trƣớc mà thƣờng có xu hƣớng chiếm dụng vốn của đối tác hơn. Phải thu nội bộ Thƣờng phát sinh trong các doanh nghiệp có sự phân cấp kinh doanh, quản lý và công tác kế toán.
Nó bao gồm các khoản vốn , kinh phí đã cấp cho cấp dƣới, các khoản thu hộ, chi hộ giữa cấp trên và cấp dƣới trực thuộc và các khoản khác. Các khoản phải thu khác Là các khoản phải thu không thuộc các khoản phải thu trên nhƣ các khoản phải thu về phạt do vi phạm hợp đồng, phải thu về tài sản thiếu do mất mát, hƣ hỏng thuộc trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gây ra tổn thất. Nguyên nhân hình thành nợ phải thu của doanh nghiệp Đối với mỗi doanh nghiệp, để quản lý nợ một cách có hiệu quả không những phải thực hiện những biện pháp kiểm soát chính mình mà còn phải hiểu rõ những nguyên nhân phát sinh nợ từ những nợ thông thƣờng đến những khoản nợ phải thu khó đòi. Nguyên nhân hình thành nợ trong hạn Trong quá trình hoạt đông kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều phát sinh các khoản phải thu nhƣng ở các mức độ nhiều ít khác nhau.
Nguyên nhân chủ yếu hình thành các khoản phải thu là từ chính sách bán hàng và quy định về quản lý tài chính của doanh nghiệp. Trong đó chính sách bán hàng tác động mạnh nhất đến các khoản phải thu trong doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể thay đổi mức độ bán chịu để kiểm soát khoản phải thu sao cho phù hợp với sự đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro.