Đặt vấn đề nghiên cứu Ngày nay sự cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng gay gắt, nhất là trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng. Các NHTM phải cạnh tranh không chỉ với các TCTD trong nƣớc mà cả các ĐCTC lớn của quốc tế. Để có thể tồn tại và phát triển, các NHTM cần phải tăng trƣởng cả về tài sản, nguồn vốn, lợi nhuận, quy Luận văn taì chính ngân hàng mô, khách hàng… một cách nhanh chóng nhƣng phải bền vững. Trong đó, một trong những mục tiêu quan trọng nhất và cũng là mục tiêu cuối cùng của NHTM là tăng trƣởng lợi nhuận, mang về giá trị thặng dƣ cho cổ đông và nền kinh tế.
Theo nhƣ nghiên cứu của TS. Đinh Xuân Cƣờng (2015), trong các hoạt động kinh doanh lợi nhuận của NHTM Việt Nam, hoạt động cho vay mang lại lợi nhuận lớn nhất và chiếm khoảng 60% đến 80% tổng lợi nhuận. Tuy nhiên mục tiêu lợi nhuận đặt ra càng cao đòi hỏi các NHTM phải đối mặt với mức rủi ro tín dụng càng lớn, do đó, nhu cầu quản trị rủi ro cho vay là thực sự thiết yếu đối với các NHTM. Trong số các rủi ro tín dụng của NHTM, rủi ro về DMCV là dễ dàng nhận dạng nhƣng lại rất khó để quản trị.
NHNN đang tiếp cận các phƣơng pháp quản trị rủi ro DMCV tiên tiến trên thế giới theo hƣớng chủ động nhằm định hƣớng cho các NHTM nhận biết đƣợc tầm quan trọng và lợi ích của việc quản trị rủi ro DMCV. Điển hình nhƣ quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và thông tƣ 02/2013/TT-NHNN ban hành về phân loại nợ và trích lập DPRR tín dụng, thông tƣ 36/2014/TT-NHNN quy định về tỷ lệ cho vay tối đa theo khách hàng, nhóm khách hàng liên quan. Ngoài ra trên thế giới cũng đã phát triển các mô hình, chuẩn mực, phƣơng pháp quản trị rủi ro DMCV hiệu quả cao nhƣ phƣơng pháp đo lƣờng rủi ro DMCV theo Basel, chứng khoán hóa, đa dạng hóa… Tuy nhiên thực tế các NHTM tại Việt Nam phần lớn còn đang thực hiện quản trị DMCV theo phƣơng pháp truyền thống là chủ yếu, quản trị đối với từng khoản cho vay riêng lẻ. Do đó điều này gây tiềm ẩn rủi ro danh mục rất lớn.
BIDV là một trong những ngân hàng có vốn tự có và tổng tài sản lớn nhất tại Việt Nam hiện nay, truyền thống chuyên cung cấp các sản phẩm cho vay đối với 2 các khách hàng doanh nghiệp (tín dụng bán buôn), các ĐCTC với các khoản vay có giá trị lớn. Trong những năm gần đây, nhất là từ khi BIDV chuyển đổi mô hình hoạt động từ NHTM TNHH Một Thành Viên sở hữu Nhà nƣớc thành NHTM cổ phần thì quan điểm về DMCV của ngân hàng cũng thay đổi. BIDV chú trọng hơn trong công tác phát triển khách hàng bán lẻ (tín dụng bán lẻ), tung ra hàng loạt các sản phẩm tín dụng bán lẻ mà trƣớc đó chƣa bao giờ là thế mạnh của ngân hàng này. Việc thay đổi Luận văn taì chính ngân hàng trong quan điểm và cơ cấu DMCV nhƣ vậy sẽ phát sinh các khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu nhƣ BIDV không có phƣơng pháp quản trị hiệu quả DMCV của mình.
Mặt khác hiện tại BIDV là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu và giá trị các khoản nợ xấu ở mức tƣơng đối cao, điều này kìm hãm kết quả hoạt động kinh doanh trong nhiều năm qua. Trong khi đó việc vận dụng các phƣơng pháp quản trị DMCV hiện đại chƣa đƣợc sử dụng linh hoạt. Với các điều kiện sẵn có, việc nghiên cứu “Quản trị danh mục cho vay tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam” sẽ hỗ trợ cho các nhà quản trị BIDV định hƣớng xây dựng DMCV phù hợp với từng đối tƣợng, lĩnh vực, ngành nghề, hạn chế đƣợc rủi ro trong cho vay, nâng cao tính cạnh tranh và gia tăng hiệu quả kinh doanh. Đồng thời nghiên cứu cũng góp phần kiến nghị NHNN và các cơ quan quản lý kịp thời điều chỉnh, bổ sung các cơ chế chính sách chƣa phù hợp, còn hạn chế về quản lý và điều hành hệ thống DMCV của NHTM, góp phần thực hiện các mục tiêu tiền tệ và chính sách kinh tế quốc gia.
Tính cấp thiết của đề tài Rủi ro DMCV đƣợc cho là đặc biệt nguy hiểm, bởi nó không chỉ ảnh hƣởng đến khả năng thu hồi vốn cho vay mà còn quyết định sự tồn tại của một ngân hàng nói riêng và cả hệ thống Tài chính Ngân hàng nói chung. Trên thế giới, Ủy ban Basel về Giám sát hoạt động ngân hàng đã ban hành các tiêu chuẩn, thông lệ tốt về quản trị rủi ro bao gồm Basel I, II, III, tuy nhiên theo nhận định của Công ty chứng khoán Bảo Việt các NHTM Việt Nam vẫn chƣa áp dụng đến tiêu chuẩn Basel 2, chỉ có số ít ngân hàng có định hƣớng áp dụng nhƣng vẫn còn rất manh nha, không đồng bộ và rõ nét. Hiện tại BIDV chỉ mới triển khai 3 thí điểm tiêu chuẩn Basel 2 trong quản trị rủi ro cho vay. Định hƣớng đến năm 2019 BIDV mới chính thức triển khai quản trị DMCV theo tiêu chuẩn này.
Sự cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày càng gây gắt, áp lực gia tăng lợi nhuận càng lớn thì hoạt động cho vay càng bộc lộ nhiều rủi ro. Với quy mô vốn và tài sản hiện có, BIDV là một ĐCTC lớn, có ƣu thế vƣợt trội về thƣơng hiệu và quy mô, BIDV cần là ngân hàng đi đầu trong công tác quản trị DMCV theo khuynh Luận văn taì chính ngân hàng hƣớng hiện đại của quốc tế. Quản trị rủi ro DMCV cần phải đƣợc đặt lên hàng đầu cùng với quá trình kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Nợ xấu dây chuyền hàng loạt là minh chứng rõ nhất của việc thiếu lập kế hoạch trong cho vay, tập trung nguồn vốn cho vay không cân đối giữa các ngành nghề, lĩnh vực, đối tƣợng khách hàng.
Khi một lĩnh vực nào đó của nền kinh tế gặp khó khăn, phƣơng án kinh doanh bị ảnh hƣởng, khách hàng không trả đƣợc nợ sẽ gia tăng nợ xấu của ngân hàng, dẫn đến mất cân đối nguồn vốn và giảm kết quả hoạt động kinh doanh, nguy cơ phá sản cao. BIDV cũng là một trong những ngân hàng có dƣ nợ quá hạn, nợ xấu cao nhất hệ thống. Thông qua các phƣơng pháp quản trị DMCV, BIDV sẽ có chiến lƣợc quản trị DMCV một cách chặt chẽ, hợp lý và kết hợp các loại tài sản một cách hài hòa, giảm thiểu rủi ro và nợ xấu. Với mong muốn đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện quản trị DMCV của BIDV trong thời gian tới nhằm gia tăng chất lƣợng tín dụng tại BIDV một cách an toàn và hiệu quả, xuất phát từ những điều kiện, tiềm năng vƣợt trội của BIDV và những tồn tại trong quản trị rủi ro DMCV, vấn đề tìm hiểu và nghiên cứu về quản trị DMCV tại BIDV hiện nay là rất cần thiết.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trƣớc đây Quản trị DMCV tại các NHTM là chủ đề rất đƣợc các nhà kinh tế học quan tâm và nghiên cứu. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên chƣa có một nghiên cứu cụ thể nào tại BIDV. Sách “Credit Portfolio Management” của tác giả Charles W. Smithson do nhà xuất bản John Wiley & Sons, Inc phát hành năm 2002 đã đƣa ra các công cụ và kỹ thuật để quản lý danh mục đầu tƣ của các khoản cho vay, trái phiếu, tài sản và tín 4 dụng khác.
Tác giả cho rằng vốn của một ngân hàng là yếu tố quan trọng trong quản lý rủi ro tín dụng, nó mang lại động lực quản lý tốt và là tấm đệm chống chịu với các tác động không lƣờng trƣớc của nền kinh tế. Đồng thời ông cũng cho thấy rủi ro đơn lẻ của một tài sản có rủi ro là cao hơn khi kết hợp các tài sản này với nhau trong một danh mục đầu tƣ phù hợp, hay nói cách khác chúng ta có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách đa dạng hóa DMCV. Nghiên cứu góp phần làm rõ sự quan trọng Luận văn taì chính ngân hàng của vốn tự có, vốn kinh tế (là lƣợng vốn cần thiết đƣợc ngân hàng xác định để có thể chịu đƣợc những tổn thất không lƣờng trƣớc đƣợc), đa dạng hóa DMCV nhằm mục tiêu hoàn thiện cơ chế cho vay, quản trị DMCV của BIDV. Smithson chƣa thực hiện tính toán khả năng chịu tổn thất so với mức vốn tự có của NHTM cụ thể để rút ra bằng chứng thực nghiệm cho nghiên cứu mà đi sâu vào khung lý thuyết.
Sách “Credit Risk Measurement” của tác giả Anthony Saunders & Linda Allen do nhà xuất bản John Wiley & Sons, Inc phát hành năm 2002 đã đƣa ra các phƣơng pháp tiếp cận mới để đo lƣờng rủi ro tín dụng, trong đó có thể kể đến nhƣ: XHTD, mô hình Var, mô hình Z-core, mô hình đo lƣờng tổn thất kỳ vọng. Xuất phát từ thực tế các ngân hàng đang đối mặt với nguy cơ phá sản, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, tài sản thế chấp có nguy cơ bốc hơi nhanh chóng do nhiều nguyên nhân nhƣ lạm phát, suy thoái kinh tế, thị trƣờng tài chính phái sinh phát triển nhƣng cũng tiềm tàng nhiều rủi ro; nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng về đo lƣờng rủi ro đứng dƣới góc độ cả danh mục tài sản chứ không phải từng khoản vay riêng lẻ. Bài viết dừng lại ở góc độ nhận diện và đo lƣờng rủi ro tín dụng, chƣa đi sâu vào nghiên cứu cách thức quản trị DMCV tại một NHTM. Wolfgang Hammes, Mark Shapiro (2001) trong bài nghiên cứu “The implications of the new capital adequacy rules for portfolio management of credit assets” đƣa ra các phƣơng pháp quản lý danh mục đầu tƣ tín dụng cho các NHTM để quản lý tốt hơn nguồn vốn cho vay.
Tác giả đƣa ra bốn nhân tố chính ảnh hƣởng đến quản lý danh mục đầu tƣ tín dụng đối với NHTM của Mỹ đó là: thay đổi cấu trúc trong thị trƣờng tín dụng, hiệu quả của chuyển giao rủi ro tín dụng trong thị 5 trƣờng vay, sự tăng trƣởng mạnh mẽ của dƣ nợ tín dụng, sự hội tụ giữa vốn rủi ro và vốn pháp định. Đồng thời nhóm nghiên cứu cũng cho thấy chức năng của quản lý DMCV không chỉ để quản lý rủi ro tín dụng cho ngân hàng, mà còn phải tạo ra giá trị cổ đông bền vững, nâng cao tính cạnh tranh. Dickerson Knight Group, Inc. (2003) trong nghiên cứu về “Quản lý danh mục cho vay thuộc dự án quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEDF)” trình Luận văn taì chính ngân hàng bày các loại rủi ro mà các ngân hàng đang gặp phải, trong đó có rủi ro quản lý DMCV.