MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, các dịch vụ truyền thông điện tử dựa trên công nghệ viễn thông và tin học đang tăng trưởng nhanh một cách vững chắc hơn thư tín truyền thống. Dé cạnh tranh lại, bưu chính nhiều nước đã sử dụng chính công nghệ viễn thông và tin học dé tạo ra các dịch vụ mới nhanh, rẻ và tiện ích cho khách hàng. Quan điểm phát triển của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã chỉ rõ "Bưu chính, viễn thông Việt Nam trong mối liên kết với tin học, truyền thông tạo thành cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia, phải là một ngành mũi nhọn, phát trién mạnh hơn nữa, cập nhật thường xuyên công nghệ và kỹ thuật hiện đại.
Phát triển đi đôi với quản lý và khai thác có hiệu quả, nhằm tạo điều kiện ứng dụng và thúc đây phát triển công nghệ thông tin trong mọi lĩnh vực của toàn xã hội, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước và nâng cao dân trí." Ra đời tại Việt Nam từ tháng 8/2000, dich vụ DataPost là bước đột phá mới về công nghệ lai ghép giữa Viễn thông - Tin học - Bưu chính, tạo ra sản phẩm mang tính công nghiệp cao. Sản phẩm DataPost đã đánh thức nhu cầu tiềm ân của nhiều doanh nghiệp trước đây thường có nhu cầu in ấn, chuyên phát với số lượng lớn và thường xuyên. Hiện nay, dịch vụ DataPost là một trong những dịch vụ Bưu chính do Trung tâm Khai thác Vận chuyền - Bưu điện Tp. Hà Nội cung cấp; đồng thời được coi là một trong những dịch vụ mũi nhọn của ngành Bưu chính Việt Nam.
Tuy nhiên, việc quản lý và kinh doanh vẫn mang nhiều tính bị động, hoàn toàn chưa phát huy được thế mạnh của dịch vụ. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, xu hướng toàn cầu hóa, tự do hóa thị trường bưu chính, chính sách mở cửa đã tạo ra nhiều đối thủ cạnh tranh mới trên thị trường bưu chính đòi hỏi nhà quản lý phải đổi mới tư duy. Nhận thức được ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài "Chiến lược phát triển dịch vụ DataPost tại Trung tâm Khai thác Vận chuyền - Bưu điện TP. Ha Nội giai đoạn 2009-2014".
Tình hình nghiên cứu Chiến lược và Quản trị chiến lược là lĩnh vực tương đối mới, thực tế chưa có nhiều doanh nghiệp áp dụng vào thực tiễn. Qua tìm hiểu, được biết hiện nay có một số đề tài nghiên cứu về vấn đề chiến lược như: - Hoàng Văn Hải - "Đổi mới công tác hoạch định chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước trong giai đoạn hiện nay ở nước ta" - Luận án Tiến sĩ kinh tế, 2000. - Dương Thanh Ngọc Thuỷ - “Chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh của Xí nghiệp Xây lắp điện — Công ty Điện lực 1” - Luận văn Thạc si kinh tế, 2004. - Đoàn Thị Thu Ngân — “Phân tích về một số giải pháp chiến lược của Công ty Điện lực Tp.
Hà Nội đến năm 2015” - Luận văn Thạc sĩ kinh tế, 2005. - Nguyễn Mạnh Tuân - "Chiến lược Marketing sản phẩm thuốc lá Virginia Gold của Công ty Thuốc lá Hải Phòng" - Luận văn Thạc sĩ kinh tế, 2005. - Phan Thanh Hùng - “Xây đựng và lựa chọn chiến lược sản phẩm của Cong ty Công nghệ và Thương mại Nhật Hải” - Luận văn Thạc sĩ kinh té, 2005. - Nguyễn Quang Doan - "Hoàn thiện chiến lược kinh doanh của Tổng Công ty Hàng không Việt Nam” - Luận văn Thạc sĩ kinh tế, 2005.
10 - Lê Thanh Tùng - "Dinh hướng chiến lược kinh doanh dịch vụ Internet của Công ty Điện toán và Truyén số liệu trong mô hình tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam” - Luận an Thạc sĩ kinh tẾ, 2006 Nhìn chung các luận văn, bài viết cũng đã đi sâu vào phân tích và xây dựng chiến lược phát triển theo đặc thù riêng của từng doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối với dịch vụ DataPost, do đây là dịch vụ mới của ngành, mức độ phổ biến ra bên ngoài còn hạn chế nên hầu như không có công trình nghiên cứu cu thé nao về dich vu. Mục dich và nhiệm vu nghiên cứu 3.1 Mục đích Hiện nay, DataPost là dịch vụ bưu chính được VNPT chú trọng trong công tác đầu tư. Tuy nhiên, việc kinh doanh dịch vụ vẫn thực hiện theo tư duy cũ, bị động trong quá trình tiếp cận với thị trường.
Hơn nữa, trong năm tới, theo chủ trương của Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam, dịch vụ DataPost sẽ được tách riêng thành một Trung tâm hoạt động độc lập trực thuộc Bưu điện thành phố Hà Nội. Do đó, tác giả muốn thông qua quá trình nghiên cứu tìm hiểu thực tế tình hình kinh doanh dịch vụ DataPost tại Trung tâm Khai thác Vận chuyên - Bưu điện tp. Hà Nội, qua đó xây dựng chiến lược nhằm phát triển dịch vụ đến năm 2014 nhằm đạt mục tiêu đề ra.2 Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông nói riêng. - Phân tích thực trạng tình hình kinh doanh dich vụ DataPost trong giai đoạn hiện nay làm nôi bật những điểm mạnh, điểm yếu của dịch vụ.
- Xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ trong giai đoạn 2009-2014. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Dịch vụ DataPost tại Trung tâm Khai thác Vận chuyên - Bưu điện Tp. Hà Nội - Phạm vi nghiên cứu: tình hình kinh doanh dịch vụ DataPost tai Trung tâm Khai thác Vận chuyên - Bưu điện thành phố Hà Nội. Thời gian nghiên cứu: từ năm 2003 đến nay.
Phương pháp nghiên cứu Dé giải quyết những van dé đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác Lê Nin, kết hợp sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp dự báo, thống kê để hệ thống hóa, khái quát hóa nhằm làm rõ vấn đề khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn - Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. - Phân tích thực trạng tình hình kinh doanh dịch vụ DataPost tại Bưu điện Hà Nội, các nhân tố ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh của dịch vụ. Qua đó tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thác thức nhằm xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp đề đạt mục tiêu đề ra trong giai đoạn 2009 - 2014.
12 CHUONG 1: MỘT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRO CUA QUAN TRI CHIEN LƯỢC 1.1 Khái niệm chiến lược và quản tri chiến lược 1.1 Khai niệm chiến lược Thuật ngữ "chiến lược" có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp (strategos) bắt nguồn với hai từ "Stratos" có ý nghĩa là quân đội, bầy đoàn và từ " Agoss" có ý nghĩa là lãnh đạo, điều khiển. Chiến lược được sử dụng trước tiên trong quân sự để chỉ các kế hoạch lớn, dài hạn được đưa ra trên cơ sở tin chắc được cái gì đối phương có thể làm, cái gì đối phương có thê không làm. Thông thường người ta hiểu chiến lược là khoa học và nghệ thuật chỉ huy quân sự, được ứng dụng dé lap ké hoạch tổng thé va tiến hành những chiến dịch có qui mô lớn. Carl Von Clausewitz - một nhà binh pháp của thế kỷ 19 đã mô tả chiến lược là “lập kế hoạch chiến tranh và hoạch định các chiến dịch tác chiến.
Những chiến dịch ay sẽ quyết định sự cam kết hành động của cá nhân Bắt đầu từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ "Chiến lược kinh doanh" ra đời. Tuy nhiên, quan niệm về chiến lược kinh doanh cũng được dần theo thời gian và người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau. Theo cách tiếp cận truyền thống, chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và thực hiện chương trình hành động cùng với việc phân bé các nguồn lực cần thiết dé đạt được các mục tiêu đã xác định. Cũng có thể hiểu chiến lược là phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng đề định hướng tương lai nhằm đạt được và duy trì những sự phát triển [6].
13 Theo tập đoàn tư van Boston thì “Chiến lược kinh doanh là những xác định sự phân bé nguồn lực sẵn có với mục dich làm thay đổi thé cân bằng cạnh tranh và chuyên lợi thế về phía mình. Xác định vi thế cạnh tranh của mình so với các doanh nghiệp cùng ngành và đề ra mục tiêu tương ứng giúp doanh nghiệp cân đối các nguồn lực và phương tiện đạt được mục tiêu”.2 Khái niệm quản trị chiến lược Quản trị chiến lược là “hệ thống các quyết định và hành động nhằm đạt được thành công lâu dài của tô chức” [6]. Các quyết định và hành động gắn kết với nhau thành hệ thống hướng tới mục tiêu thành công lâu đài và bền vững, vì vậy quản trị chiến lược sẽ đặt các nhà quan tri trước sự lựa chọn giữa thành tích ngắn hạn với thành công đài hạn, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dải. Quản trị chiến chiến lược là hệ thống nhỏ trong hệ thống quản trị doanh doanh nghiệp, nó gắn chặt với quản trị tác nghiệp và quản trị rủi ro.2 Lợi ích của quản trị chiến lược Trong điều kiện biến động của môi trường kinh doanh hiện nay, chỉ có một điều mà các công ty có thé biết chắc chắn, đó là sự thay đổi.
Quá trình quản trị chiến lược như là một hướng đi giúp các t6 chức này vượt qua sóng gió vươn tới tương lai bằng chính nỗ lực và khả năng của mình. Quản trị chiến lược giúp cho một tổ chức có thể chủ động hơn thay vì bị động trong việc vạch rõ tương lai của mình; nó cho phép một tổ chức có thê tiên phong và gây ảnh hưởng trong môi trường nó hoạt động (thay vì chỉ phản ứng lại một cách yếu ớt). Quản trị chiến lược giúp cho các tô chức tạo ra được các chiến lược tốt hơn thông qua việc vận dụng một cách bài bản hơn, hợp lý hơn và tiếp cận tốt hơn đối với những sự lựa chọn chiến lược. Quản trị chiến lược đem lại cho chúng ta những lợi ích sau [9]: - Giúp nhận dạng, sắp xêp ưu tiên và tận dụng các cơ hội.
14 - Đưa ra cách nhìn thực tế về các khó khăn của công tac quan tri.