CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm và lý thuyết có liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thị trường Là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ.
Thực chất, Thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng có một yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu đó. Theo marketing, thị trường bao gồm tất cả khách hàng hiện có và tiềm năng có cùng một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, có khả năng và sẵn sàng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu hoặc mong muốn đó. Thị trường là một tập hợp những người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau, dẫn đến khả năng trao đổi. Năng lực Năng lực của một doanh nghiệp là những nguồn lực cần thiết để doanh nghiệp có thể vận hành và thực hiện được các chiến lược trong sản xuất, kinh doanh.
Năng lực chính là khả năng liên kết các nguồn lực để cùng phục vụ cho một mục đích chung. Năng lực biểu thị sự liên kết giữa các nguồn lực hữu hình và vô hình riêng có của mỗi tổ chức. Năng lực thể hiện khả năng sử dụng những nguồn lực đã được liên kết một cách có mục đích, nhằm đạt được kết quả mong muốn. (nguồn: Nguyễn Hoàng Long, Nguyễn Hoàng Việt 2015) Theo từ điển năng lực của Đại học Harvard thì năng lực, theo thuật ngữ chung nhất, là “những thứ” mà một người phải chứng minh có hiệu quả trong việc làm, vai trò, chức năng, công việc, hoặc nhiệm vụ.
Trong cuốn “Tiêu chuẩn năng lực cho đánh giá” của cơ quan đào tao quốc gia Úc năng lực được mô tả bao gồm kiến thức, kỹ năng và sự áp dụng phù hợp những kiến thức và kỹ năng đó theo tiêu chuẩn thực hiện trong việc làm. Cạnh tranh Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam, cạnh tranh được định nghĩa là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, yếu tố được coi là khắc nghiệt nhất là cạnh tranh.
Nhà chiến lược cạnh tranh Porter đã khẳng định “Tất cả các doanh nghiệp đều không thể trốn thoát khỏi cạnh tranh”. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đầy biến động và cạnh tranh hiện nay là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh tế tham gia vào thị trường nhằm giành giật nhiều các lợi ích kinh tế hơn về mình. (nguồn: katsumu nishimumura 2016) Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi. Năng lực cạnh tranh Theo quan điểm của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực cạnh tranh, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý trí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện những mục tiêu doanh nghiệp đề ra”. Theo nhà quản trị chiến lược Micheal Poter: “Năng lực cạnh tranh” của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao.
Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh” là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Một 12 doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển. Theo quan điểm tổng hợp của Wan Buren, Martin và Westqren năm 1991: năng lực cạnh tranh của một ngành, một doanh nghiệp là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước.
Hoặc “Năng lực cạnh tranh” của doanh nghiệp là những năng lực doanh nghiệp thực hiện đặc biệt tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Đó là các thế mạnh mà các đối thủ cạnh tranh không dễ dàng thích ứng hoặc sao chép. (Nguồn: Nguyễn Hoàng Long, Nguyễn Hoàng Việt - 2015) Năng lực và năng lực cạnh tranh có mối quan hệ mật thiết với nhau. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ năng lực của doanh nghiệp.
Đây là yếu tố nội hàm của doanh nghiệp không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị. một cách riêng biệt mà cần đánh giá so sánh với các đối tác cạnh tranh mạnh trong cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường 1. Năng lực cốt lõi Năng lực cốt lõi là những năng lực mà DN thực hiện đặc biệt tốt hơn so với các năng lực khác của DN nó là nền tảng cơ sở của chiến lược phát triển và lợi thế cạnh tranh của DN (nguồn: Nguyễn Hoàng Long, Nguyễn Hoàng Việt 2015) Thuật ngữ năng lực cốt lõi nhằm chỉ sự thành thạo chuyên môn hay các kỹ năng của công ty trong các lĩnh vực chính nhằm đem lại hiệu suất cao. Năng lực lõi bao gồm một tập hợp các kỹ năng, khả năng cụ thể và các nguồn lực xác định được kết hợp cũng như cách thức nguồn lực này được sử dụng để đạt được mục tiêu của tổ chức (Fiol, 2001).
Hamel và Prahalad (1994) xác định năng lực cốt lõi như là một tập hợp cá nguồn lực, kỹ năng và công nghệ, cho phép một doanh nghiệp cung cấp những lợi ích đặc biệt cho khách hàng. Năng lực lõi không phải chỉ cho một sản phầm cụ thể mà góp phần vào năng lực cạnh tranh của một loạt sản phẩm hoặc dịch vụ trên thị trường. Năng lực lõi có thể hình dung như một tấm thảm được dệt nên từ các loại kỹ năng và công nghệ riêng biệt của tổ chức. Mỗi tấm thảm này để coi là một năng lực cốt lõi cần đáp ứng đồng thời 3 tiêu chí, bao gồm cung ứng giá trị cho khách hàng, sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh và khả năng duy trì bền vững.
Những năng lực cốt lõi thường gắn chặt và hội tụ với các hoạt động chuỗi giá trị của doanh nghiệp. 13 Mối quan hệ giữa năng lực và năng lực cốt lõi Năng lực là điểm xuất phát đầu tiên của năng lực cốt lõi. Khi xác định được năng lực của công ty nhà quản trị sẽ tiến hành tìm kiếm năng lực này có phát triển mạnh ở điểm nào hay phát triển mạnh trong khía cạnh nào từ đó dựa vào năng lực đó để tạo năng lực lõi “năng lực lõi chính là yếu tố cần thiết để tạo nên tính độc đáo của doanh nghiệp trong việc thỏa mãn khách hàng trong một khoảng thời gian” nhưng không phải tất cả các năng lực, tiềm lực của tổ chức đều có thể trở thành năng lực cốt lõi 1. Một số lý thuyết có liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.
Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh - Lí thuyết về mô hình lợi thế cạnh tranh của M.Porter: Theo ( Porter, 1985), lợi thế cạnh tranh ở góc độ vi mô được hiểu là vị thế mà một doanh nghiệp muốn đạt được so với đối thủ cạnh tranh. Vị thế này được thể hiện trên thị trường thông qua các yếu tố cạnh tranh như giá sản phẩm( chi phí ) hay sự khác biệt hóa, hoặc đồng thời cả hai. Lợi thế canh tranh gắn liền với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu không sở hữu một lợi thế cạnh tranh bền vững thì hiệu suất hoạt động trên mức trung bình thường được coi là một dấu hiệu của sự thành công của doanh nghiệp.Porter doanh nghiệp có thể lựa chọn 1 trong 3 lợi thế cạnh tranh bền vững: Chi phí thấp: Lợi thế về chi phí khi một doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tương tự với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Khác biệt hóa: Lợi thế về sự khác biệt hóa là khi một doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm, dịch vụ khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh. Lợi thế về khác biệt hóa có thể là về chất lượng sản phẩm, thiết kế, mẫu mã, dịch vụ khách hàng. Tập trung hóa: Lợi thế về tập trung đòi hỏi doanh nghiệp chú trọng vào quá trình đáp ứng một phân khúc hẹp và có tính cạnh tranh độc quyền( thị trường ngách ) để đạt được một lợi thế cạnh tranh có tính cục bộ hơn là trên cả một thị trường rộng lớn. Nhận diện năng lực cốt lõi của doanh nghiệp - Lý thuyết xây dựng năng lực cạnh tranh dựa trên Chuỗi giá trị Mô hình về chuỗi giá trị: 14 Cơ sở hạ tầng doanh nghiệp Quản lí nguồn nhân lực Họạt động bổ trợ Phát triển công nghệ Lợi nhuận Mua hàng Vận Vận Vận Marketing Dịch chuyển hành chuyển và bán vụ đầu vào đầu ra hàng Hoạt động chính Hình 1.1: mô hình chuỗi giá trị Phân tích chuỗi giá trị được coi là một công cụ phân tích chiến lược hàng đầu của doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy một doanh nghiệp quản trị các hoạt động trong chuỗi giá trị quan hệ với các đối thủ ra sao luôn là yếu tố then chốt để xây dựng các năng lực cạnh tranh có giá trị cao và theo đó kích đẩy chúng thành các lợi thế cạnh tranh bền vững. Khái niệm chuỗi giá trị (value chain) được M.