CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG DOANH NGHIỆP 1.Một số khái niệm có liên quan: 1.Khái niệm về cạnh tranh: Nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển và diễn ra sôi nổi. Xét theo nhiều góc độ khác nhau thì có nhiều khái niệm khác nhau. Theo sách “ cạnh tranh và chiến lược công ty ngày nay” ( xuất bản năm 1990) thì cạnh tranh theo hàm nghĩa kinh tế học là chỉ quá trình tranh đấu tiến hành không ngừng giữa các chủ thể kinh tế trong thị trường nhằm thực hiện lợi ích kinh tế và mục tiêu đã định của bản thân. Động lực nội tại của cạnh tranh là lợi ích kinh tế của tự thân chủ thể kinh tế, biểu hiệ cụ thể trong quá trình cạnh tranh là giữ hoặc mở rộng mức chiếm hữu thị trường, gia tăng mức tiêu thụ, nâng cao lợi nhuận.
Áp lực bên ngoài của cạnh tranh là đọ sức kịch liệt giữa các đối thủ cạnh tranh, kẻ bại sẽ bị đào thải. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam ( tập 1) – xuất bản năm 2005: cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung- cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Từ điển kinh doanh của Anh ( xuất bản năm 1992): cạnh tranh được xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình. Theo quan điểm của R.Pindyck và DL Rubinfeld trong cuốn kinh tế học vĩ mô – xuất bản năm 2000 cho rằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiều người mua và người bán, để cho không có người mua và người bán duy nhất nào có ảnh hưởng, có ý nghĩa đối với giá cả.
Theo tác giả Đoàn Hùng Nam trong tác phẩm “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập” – xuất bản năm 2006 cho rằng: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế, tất yếu phát sinh trong cơ chế thị trường với việc các chủ thể kinh tế ganh đua gay gắt để giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng để được lợi nhuận cao nhất. Mục đích cuối cùng trong cuộc cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích đối với người tiêu dùng và sự tiện lợi. 8 Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong tác phẩm “ Thị trường, chiến lược, cơ cấu” xuất bản năm 1998 thì cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ cạnh tranh của mình mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao và nới lại hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh. Qua phân tích các cách định nghĩa, khái niệm thì có thể hiểu :Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng và các điều kiện thuận lợi trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Thực chất của sự cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể khi tham gia thị trường.2 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Theo Micheal Porter (1996) thì năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại ( hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Micheal Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra các đối thủ cạnh tranh tiêu thụ và các sản phẩm thay thế. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế.
Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập” của Đặng Đức Thành – xuất bản năm 1996: “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước. Theo từ điển Thuật ngữ chính sách Thương Mại ( 1997) cho rằng, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “ không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” mang tính chất định tính, khó có thể định lượng. Từ phân tích các khái niệm, định nghĩa có thể hiểu là năng lực cạnh tranh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp, một doanh ngiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành những điều kiện thuận lợi cho chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứngvững trong cạnh tranh.2 Các nội dung lý luận về năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp: 1.
Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh: Có rất nhiều yếu tố cấu thành lên năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên các yếu tố then chốt để cấu thành lên năng lực cạnh tranh bao gồm: a)Nguồn lực: - Thứ nhất là trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp. Tổ chức tốt trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã được nhiều doanh nghiệp áp dụng thành công như phương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo tiếp cận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theo chất lượng ISO 9000. Doanh nghiệp cần phải tự tìm kiếm và đào tạo đội ngũ cán bộ cho chính mình.Muốn được như thế ngoài chính sách đãi ngộ, doanh nghiệp phải định hình rõ triết lý biết dùng người, phải trao quyền chủ động cho cán bộ và phải biết thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh hoạt, thích nghi cao với sự thay đổi.
- Thứ hai là yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn nhân lực, nguồn vốn và trình độ khoa học công nghệ. Nhân lực là nguồn lực quan trọng vì nó đảm bảo nguồn sáng tạo trong tổ chức. Trình độ nguồn nhân lực thể hiện trình độ quản lý của các cấp lãnh đạo, trình độ chuyên môn của cán bộ nhân viên. Trình độ nhân lực cao sẽ tạo ra các sản phẩm có hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kết cấu kĩ thuật của sản phẩm, mẫu mã, chất lượng … từ đó uy tín, danh tiếng cũng sẽ ngày càng tăng cao.
Nguồn vốn là nguồn lực liên quan trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luôn đảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết , có nguồn vốn huy động hợp lý, có kế hoạch sử dụng nguồn vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận. Trong thực tế không có doanh nghiệp nào có thể tự có thể tự có đủ vốn để triển khai tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì vậy doanh nghiệp cần có chiến lược đa dạng hóa nguồn vốn của mình. Trình độ công nghệ là phương pháp bí mật, là công thức tạo ra sản phẩm.
Để có năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần có công nghệ hiện đại. Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, tính linh hoạt cao, chất lượng sản phẩm tốt, ít gây ô nhiễm môi trường. Sử dụng công nghệ hiện đại giúp tạo năng suất làm việc cao, giảm thiểu các chi phí, làm cho năng lực cạnh tranh sản phẩm tăng lên. Nếu doanh 10 nghiệp giữ được bản quyền sáng chế hoặc bí quyết riêng thì thị trường sản phẩm của doanh nghiệp có tính độc quyền hợp pháp.
Do vậy, năng lực nghiên cứu phát minh và các phương pháp giữ gìn bí quyết là yếu tố quan trọng tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. b)Năng lực: - Năng lực sản xuất kinh doanh: Tất cả các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất kinh doanh hoạt động trong nền kinh tế thị trường dù là hình thức sở hữu nào ( doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân,.)thì đều có các mục tiêu hoạt động khác nhau. Trong mỗi giai đoạn, các doanh nghiệp phải theo đuổi các mục tiêu khác nhau nhưng nhìn chung các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường đều nhằm mục tiêu lâu dài, mục tiêu bao trùm là làm sao tối đa hóa lợi nhuận. Để đạt các mục tiêu đó thì các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình chiến lược đúng đắn, xây dựng các kế hoạch thực hiện và đặt mục tiêu chi tiết nhưng phải phù hợp với thực tế, đồng thời phù hợp với tiềm năng của doanh nghiệp và lấy đó làm cơ sở để huy động và sử dụng các nguồn lực sau đó tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
- Năng lực Marketing: Là quá trình tổ chức hoạt động bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra. Là quá trình quảng cáo và bán hàng. Là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn nhu cầu của thị trường. Hay Marketing làm thị trường, nghiên cứu thị trường để thỏa mãn nó.
Có thể nói để tạo ra sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường thì hoạt động Marketing là một yếu tố không thể thiếu. Một doanh nghiệp nếu xây dựng được chiến lược Marketing và biết cách sử dụng nó trong những tình huống và thời điểm thích hợp sẽ giúp doanh nghiệp đó giữ được ưu thế trên thị trường với đối thủ cạnh tranh. - Năng lực xây dựng uy tín và hình ảnh thương hiệu: Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng đều xem việc xây dựng và quảng bá thương hiệu là nhân tố hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh, tạo nên sự khác biệt công ty. Thương hiệu không chỉ là các hệ thống và vật phẩm nhận diện như logo, poster, nhãn mác, catalog,… hay các phương tiện truyền thông như mạng xã hội, website; mà nó còn chứa đựng cái hồn của doanh nghiệp trong việc thể hiện hình ảnh, màu sắc, ngôn từ… cái hồn ấy xuất phát từ những giá trị, tư tưởng, nguyên tắc trong 11 văn hóa doanh nghiệp.
Đó chính là bản sắc riêng của doanh nghiệp, mang tính độc đáo và thể hiện tính cách riêng của doanh nghiệp, tầm nhìn và sứ mệnh của doanh nghiệp.Được hình thành trong cả một quá trình phấn đấu lâu dài, kiên trì theo đuổi mục tiêu và chiến lược đúng đắn.