Chương 1: Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm nhân thọ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế - Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam trong thời gian qua - Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 3 CHƢƠNG 1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM NHÂN THỌ TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Theo từ điển bách khoa toàn thư mở (Wikipedia), cạnh tranh trong hoạt động kinh tế, đó là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, người tiêu dùng) nhằm giành lấy những vị thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Thực chất đây chỉ là cạnh tranh theo nghĩa hẹp.
Vì cạnh tranh có thể xảy không chỉ ở cấp độ những người sản xuất và những người tiêu dùng. Cạnh tranh còn xảy ra ở các cấp độ quốc gia, ngành và hàng hóa, dịch vụ. Mục đích trực tiếp của hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành lợi thế để hạ thấp giá cả của các yếu tố "đầu vào" trong chu trình sản xuất - kinh doanh và nâng cao giá "đầu ra", sao cho giành được mức lợi nhuận cao nhất với mức chi phí hợp lý nhất. Như vậy, trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Đồng thời với tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng là yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp. Cạnh tranh còn là môi trường phát triển mạnh mẽ cho các chủ thể kinh doanh thích nghi được với các điều kiện thị trường, đào thải các doanh nghiệp ít khả năng thích ứng, dẫn đến quá trình tập trung hóa trong từng ngành, vùng, quốc gia. Tóm lại, Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành kinh tế, giữa các quốc gia trong việc giành giật các lợi thế để thực hiện các mục tiêu khác nhau trong từng giai đoạn cạnh tranh nhất định. 4 Cạnh tranh có bốn cấp độ: - Xét ở cấp quốc gia thì cạnh tranh giữa các quốc gia có thể được hiểu là quá trình đương đầu của các quốc gia này với các quốc gia khác trong quá trình hội nhập kinh tế.
- Xét ở cấp ngành, cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực khác nhau nhằm thu được lợi nhuận lớn và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra, đồng thời đầu tư vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tư có lợi nhất nên đã chuyển vốn đầu tư sang ngành có lợi nhuận cao hơn. Điều này đã hình thành nên sự phân phối vốn hợp lý giữa các ngành khác nhau và giúp các doanh nghiệp ở các ngành khác nhau có số vốn bằng nhau thì thu được lợi nhuận ngang nhau. - Xét ở cấp các doanh nghiệp thì thực chất cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp để giành giật một hoặc nhiều các yếu tố sản xuất hay khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường và để thực hiện các mục tiêu chiến lược.
Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp đấu tranh với nhau để giành chiến thắng. Những doanh nghiệp giành chiến thắng sẽ mở rộng quy mô hoạt động của mình trên thị trường, còn những doanh nghiệp nào thua cuộc sẽ phải thu hẹp phạm vi kinh doanh, thậm chí các doanh nghiệp này còn có thể dẫn đến giải thể, phá sản. - Xét ở cấp sản phẩm hàng hóa dịch vụ, cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa những chủ thể kinh doanh với nhau trên một thị trường hàng hoá, dịch vụ cụ thể nào đó nhằm giành giật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá, dịch vụ đó và thu được lợi nhuận cao. Khách hàng luôn muốn mua được hàng hoá, dịch vụ có chất lượng cao mà giá lại rẻ, còn 5 các doanh nghiệp lại muốn bán được hàng hóa, dịch vụ đó với mức lợi nhuận tối đa.
Với mục tiêu là lợi nhuận, các doanh nghiệp phải tìm cách giảm chi phí, giành giật khách hàng về phía mình. Từ đó, cạnh tranh đã xảy ra và dẫn đến sự hình thành nên giá cả thị trường trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá dịch vụ. Khái niệm năng lực cạnh tranh Tương ứng với 4 cấp độ cạnh tranh thì năng lực cạnh tranh cũng có 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh của quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của hàng hóa/dịch vụ. - Năng lực cạnh tranh của quốc gia: Năng lực cạnh tranh của quốc gia là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, phát triển kinh tế xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Năng lực cạnh tranh của một quốc gia được quyết định bởi năng suất các thành tố, nhờ đó duy trì được tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững của GDP và cải thiện được điều kiện sống của người dân. - Năng lực cạnh tranh của ngành: Năng lực cạnh tranh của ngành là năng lực của các ngành trong nền kinh tế duy trì được sự thành công ổn định chống lại các đối thủ cạnh tranh từ bên ngoài. Năng lực cạnh tranh của ngành thể hiện ở các yếu tố: tỷ suất lợi nhuận của ngành trong nước so với tỷ suất lợi nhuận bình quân của ngành, cán cân thương mại, cán cân giữa đầu tư trực tiếp trong nước và ngoài nước, các yếu tố về chi phí và chất lượng, … - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát triển bản thân doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thường tạo ra bởi chính các 6 yếu tố nội tại của doanh nghiệp: công nghệ, thương hiệu, thị phần, chất lượng, mẫu mã, trình độ người lao động,… - Năng lực cạnh tranh của hàng hóa/dịch vụ: Đây là cơ sở tạo nên sức cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành và thể hiện tập trung ở các yếu tố: giá cả, chất lượng, hệ thống phân phối và thương hiệu của doanh nghiệp.
Một hàng hóa được coi là có năng lực cạnh tranh khi nó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì. hơn hẳn so với những sản phẩm hàng hóa cùng loại. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại được quyết định bởi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Không thể có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao trong khi doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh thấp.
Khái niệm năng lực cạnh tranh của Công ty bảo hiểm nhân thọ Công ty bảo hiểm nhân thọ là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất trên thế giới thông qua hoạt động bán các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và thu phí bảo hiểm của khách hàng để đầu tư vào các doanh nghiệp và ngành trong nền kinh tề. Mỗi người mua bảo hiểm nhân thọ sẽ định kỳ nộp 1 khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm. Công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn (gọi là số tiền bảo hiểm) cho người được hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra như người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định, hoặc người được bảo hiểm tử vong, thương tật,… Trên cơ sở khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty bảo hiểm nhân thọ, có thể hiểu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là khả năng của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ vượt qua các đối thủ cạnh tranh để duy trì và phát 7 triển bản thân doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Một doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ được coi là có năng lực cạnh tranh khi có năng lực tồn tại, duy trì và gia tăng thị phần doanh thu phí bảo hiểm và doanh thu khai thác mới trên thị trường bảo hiểm nhân thọ, hoạt động có hiệu quả, đảm bảo lợi nhuận hợp lý của doanh nghiệp, có khả năng chống đỡ và vượt qua những tác động bất lợi của môi trường kinh doanh.
Đặc điểm kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty 1. Khái niệm bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm nhân thọ là một trong hai nhánh chính của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm. Trong đó: - Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm.
Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. - Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng. - Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.
- Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải 8 trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. - Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.