Chương 1: Lý luận chung về Marketing - Chương 2: Phân tích hoạt động marketing sản phẩm tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Á Châu - Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động marketing sản phẩm tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Á Châu Kết luận. LÝ LUẬN CHUNG VỀ MARKETING 1. Khái niệm về marketing 1. Quá trình ra đời và phát triển của Marketing Khi sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển, sự trao đổi cũng ra đời và phát triển theo.
Có trao đổi là có đối tác, và để có được mối quan hệ lâu dài với đối tác nhằm đẩy mạnh hoạt động bán hàng, con người đã thực hiện những hành vi như tặng quà, cho đổi hàng khi khách hàng không vừa ý… Các hành vi này chỉ trở nên rõ nét khi cạnh tranh xuất hiện và trở nên ngày một gay gắt hơn, khi đó người ta phải cạnh tranh để bán, cạnh tranh để mua, cạnh tranh để tồn tại và phát triển, cạnh tranh chính là khởi nguồn của marketing, khái niệm này chỉ hình thành từ những năm đầu của thế kỷ 20. Marketing, với triết lý “định hướng khách hàng” đã bắt đầu nhen nhóm từ thời kỳ công nghiệp phát triển, lúc này lượng hàng hóa cung ứng có xu hướng vượt nhu cầu của thị trường, buộc các nhà sản xuất phải thay đổi thái độ, suy nghĩ và cách thức bán hàng để đạt được hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Các doanh nghiệp đã thực hiện nhiều phương pháp quyết liệt hơn nhằm thúc đẩy bán hàng như tặng quà, giảm giá, khuyến mãi…Quá trình tìm kiếm các giải pháp tốt hơn thúc đẩy sản xuất kinh doanh đã làm cho marketing ngày càng phát triển và hình thành khoa học marketing hoàn chỉnh. Marketing lúc đầu cũng chỉ gắn với khâu tiêu thụ, nhưng theo thời gian, nó ngày càng được hoàn thiện, bao quát cả những hoạt động có trước sản xuất, trong sản xuất và sau sản xuất.
Nó được bắt đầu từ khâu nghiên cứu thị trường, thiết kế, sản xuất sản phẩm; định giá và tổ chức hệ thống phân phối; chính sách bán hàng, chăm sóc khách hàng, chế độ ưu đãi sau bán hàng …nhằm tăng độ thỏa mãn của khách hàng với sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp trong cả ngắn hạn và dài hạn, tạo mối quan hệ gắn kết lâu dài 6 z giữa người tiêu dùng và nhà cung ứng sản phẩm, dịch vụ. Nhờ hoạt động Marketing các nhà sản xuất mới hiểu được người tiêu dùng, mới thõa mãn nhu cầu nguyện vọng của họ, mới có thể kinh doanh có hiệu quả nhằm đạt lợi nhuận cao. Marketing ngày nay đã và đang được các doanh nghiệp coi như một công cụ cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh. Trải qua quá trình hình thành và phát triển, nội dung của marketing ngày càng được hoàn thiện và phong phú hơn.
Khái niệm về marketing “Marketing là tiến trình qua đó các cá nhân và các nhóm có thể đạt được nhu cầu và mong muốn bằng việc sáng tạo và trao đổi sản phẩm và giá trị giữa các bên” (nguồn: “Principle of marketing”, Philip Kotler và Gary Armstrong, 1994). Hay nói cách khác, Marketing là quá trình xúc tiến với thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người hay Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi. Từ góc độ doanh nghiệp thì Marketing là một dạng hoạt động chức năng của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu thông qua trao đổi hàng hóa trên thị trường và trên cơ sở thỏa mãn tốt nhất nhu cầu, mong muốn của khách hàng mục tiêu. Để hiểu rõ hơn về marketing, cần tìm hiểu một số thuật ngữ cơ bản mà dựa vào việc phân tích chúng, chúng ta mới đưa ra được các chính sách marketing phù hợp.
+ Nhu cầu của con người: là cảm giác thiếu hụt mà con người cảm nhận được. Chúng được tạo ra từ tâm sinh lý và bản năng của con người, sự thiếu hụt được cảm nhận càng cao thì khao khát thỏa mãn càng lớn và cơ hội 7 z kinh doanh càng nhiều. Nhu cầu là vốn có, là một mặt bản thể của con người, nhà hoạt động marketing không tạo ra nó. Nhiệm vụ của người làm Marketing không chỉ dừng ở việc phát hiện ra nhu cầu của con người mà còn phải sản xuất ra sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu đó.
Tuy nhiên, với cùng một nhu cầu nhưng con người vốn thông minh và đa dạng luôn tìm kiếm cho mình các cách thức khác nhau để thỏa mãn nhu cầu của mình. Sự khác biệt này xuất phát từ các mong muốn khác nhau của con người. + Mong muốn: đó là cách thức mà con người muốn sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của mình. Con người với những đặc tính cá nhân khác nhau, trình độ văn hóa khác nhau, và trong những hoàn cảnh khác nhau, họ sẽ có những mong muốn khác nhau nhằm thỏa mãn cùng một nhu cầu như nhau.
Dựa vào nhu cầu tự nhiên của con người, nhà kinh doanh sẽ xác định được một chủng loại sản phẩm để đáp ứng một loại nhu cầu. Nhưng dựa vào mong muốn của con người thì nhà kinh doanh mới có thể xác định được các thông số và đặc tính của sản phẩm, từ đó quyết định sản xuất mặt hàng cụ thể mà con người-thị trường cần. Như vậy mới có thể tạo ra sản phẩm tiến bộ và nâng cao khả năng cạnh tranh của nhãn hiệu sản phẩm do họ sản xuất ra. Tuy nhiên, phát hiện ra nhu cầu thường dễ dàng, khám phá ra mong muốn về từng khía cạnh của nhu cầu lại là công việc khó khăn hơn, đòi hỏi phải nghiên cứu tỉ mỉ và kỹ lưỡng hơn.
Và đôi khi mong muốn của con người tồn tại dưới dạng tiềm ẩn mà chính họ cũng không nhận thức được. Nhưng nếu được nhà kinh doanh hay một yếu tố môi trường nào đó gợi mở thì nó lại bùng phát nhanh và biến thành sức mua mạnh mẽ. Mong muốn của con người là vô hạn nhưng khả năng thỏa mãn mong muốn lại có hạn, đồng thời khách hàng phải mua/trao đổi để có được sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình, qua đó mà doanh 8 z nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh của mình. Vì vậy, trong khi đáp ứng nhu cầu tự nhiên và mong muốn của con người, doanh nghiệp phải hiểu một cấp độ cao hơn nữa của nhu cầu thị trường là cầu thị trường.
+ Cầu thị trường (hay còn gọi là nhu cầu có khả năng thanh toán) là nhu cầu tự nhiên đã trở thành mong muốn phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng. Mong muốn sẽ trở thành số cầu khi có sức mua. Sản phẩm làm ra phải phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng đồng thời giúp họ thỏa mãn được nhu cầu, lúc đó sức tiêu thụ sản phẩm gia tăng thì doanh nghiệp mới đạt được lợi nhuận mục tiêu. + Sản phẩm: là bất cứ những gì được đưa ra thị trường để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng.
Như vậy nhiệm vụ đặt ra cho cac nhà kinh doanh là phải xác định chính xác nhu cầu, mong muốn và do đó lợi ích mà người tiêu dùng cần được thỏa mãn, từ đó sản xuất và cung cấp những hàng hóa và dịch vụ có thể đảm bảo tốt nhất những lợi ích cho người tiêu dùng. Các doanh nghiệp thực hành Marketing thành công thường hành động theo triết lý: “hãy yêu quý khách hàng hơn là sản phẩm” hoặc là: “hãy quan tâm tới lợi ích có thể đem lại cho khách hàng hơn là sản phẩm” Khi khách hàng quyết định mua sắm một nhãn hiệu hàng hóa cụ thể họ thường kỳ vọng vào những lợi ích do tiêu dùng nhãn hàng hóa đó mang lại. Cùng một nhu cầu có nhiều hàng hóa hoặc nhãn hiệu hàng hóa có thể hướng đến để thỏa mãn nhưng theo cảm nhận của người tiêu dùng thì mức độ cung cấp những lợi ích của các hàng hóa đó không giống nhau. Khi khách hàng quyết định mua sắm một sản phẩm cụ thể họ thường kỳ vọng vào những lợi ích do tiêu dùng sản phẩm đó mang lại.
Cùng một nhu cầu có nhiều hàng hóa hoặc sản phẩm có thể hướng đến để thỏa mãn nhưng theo cảm nhận của người tiêu dùng thì mức độ cung cấp những lợi ích của 9 z các sản phẩm đó không giống nhau. Hàng hóa này có ưu thế về cung cấp lợi ích này, nhưng lại có hạn chế trong việc cung cấp lợi ích khác. Khi quyết định mua buộc người tiêu dùng phải lựa chọn, để lựa chọn người tiêu dùng phải căn cứ vào khả năng cung cấp các lợi ích và khả năng thỏa mãn nhu cầu của từng sản phẩm. Giá trị tiêu dùng đối với một sản phẩm là sự đánh giá của người tiêu dùng về khả năng của nó trong việc thỏa mãn nhu cầu đối với họ.
Lợi ích mà người tiêu dùng kỳ vọng gồm lợi ích vật chất, tinh thần, xã hội và những lợi ích khác như: sự hài lòng, thoải mái…, những lợi ích này không chỉ do sản phẩm mang lại mà còn do sự nỗ lực ở tất cả các khâu như: bán hàng, quảng cáo, phân phối hàng hóa tới tận tay người tiêu dùng… Khách hàng chỉ có thể mua một sản phẩm nếu sản phẩm đó có giá trị với họ. Giá trị của một sản phẩm là những đánh giá của khách hàng về khả năng lấp đầy cảm giác thiếu hụt mà họ cảm nhận được. Sản phẩm được đánh giá là có giá trị tiêu dùng cao thì cơ hội được khách hàng chọn mua là rất lớn. Tuy nhiên có những sản phẩm được đánh giá rất cao nhưng không tiêu thụ được.
Bởi vì, khách hàng “chưa có khả năng chi trả” hoặc họ không cảm thấy thỏa mãn khi phải bỏ ra quá nhiều chi phí để nhận được những giá trị lợi ích đó. Đối với các sản phẩm có giá trị tiêu dùng tương tự nhau, khách hàng thường có xu hướng lựa chọn sản phẩm có chi phí thấp nhất. Ngoài tính năng về giá trị tiêu dùng và chi phí hợp lý của sản phẩm, các doanh nghiệp còn muốn hướng tới một mục tiêu xa hơn, đó là “sự hài lòng của khách hàng”. Sự hài lòng của khách hàng là trạng thái cảm giác của khách hàng khi khách hàng nhận được nhiều hơn hoặc ngang bằng những lợi ích mà họ kỳ vọng khi mua sản phẩm ấy.
Sự hài lòng của khách hàng mang lại cơ hội mua hàng lần sau cho doanh nghiệp là rất lớn. Và đó chính là 10 z mục tiêu lâu dài mà doanh nghiệp muốn đạt được khi đưa sản phẩm của mình ra thị trường.