CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CO SỞ LY LUẬN VE CHIEN LƯỢC KINH DOANH 1. Tinh hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Với vai trò quan trọng của chiến lược kinh doanh trong việc định hướng và phát triển doanh nghiệp thì chiến lược kinh doanh luôn là một trong những đề tài được nhiều nhà khoa học, giới chuyên môn và nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, mỗi tác giả khi nghiên cứu vấn đề này lại có các cách tiếp cận khác nhau. Tình hình nghiên cứu trên thế giới - Porter, M.
(1980) Competitive Strategy, Free Press, New York. (1985) Competitive Advantage, Free Press, New York. - Rudolf Grunig, Richard Kuhm (2004), Hoach dinh chiến lược theo quá trình, Nxb Khoa học và Kỹ thuật. Bizzell , Chién luoc va sách lược kinh doanh, Nxb Thống kê.
Tình hình nghiên cứu trong nước Liên quan đến đề tài tác giả đang nghiên cứu, có thể kế đến một số công trình của các tác gia sau: - Trần Đăng Khoa (2007). “Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020”. Luận án tiễn sỹ kinh tế, Trường DH Kinh tế thành phó Hồ Chí Minh. Đề tài này đã sử dung các công cụ phân tích ngành như ma trận SWOT, ma trận IFE, ma trận EFE, ma trận hình ảnh các đối thủ cạnh tranh,.
dé áp dụng phân tích cho ngành viễn thông Việt Nam, từ đó đưa ra các chiến lược phát triển cho ngành viễn thông Việt Nam đến năm 2020. Đề tài nghiên cứu đã dé xuất các giải pháp nhắn mạnh yếu tố phát triển bền vững và xu thé phát triên của công nghệ viên thông trên thê giới hiện nay. Kêt quả nghiên cứu của dé tài có thé làm nguồn tư liệu tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách phát triển ngành cho các nhà quản lý và là nguồn tham khảo hữu ích cho việc xây dựng luận văn này. - Hoàng Thị Nhẫn (2011).
“Phái triển kinh doanh dịch vụ viễn thông di động tai Công ty Thông tin viễn thông Điện lực — EVN Telecom”. Luận văn thạc sỹ kinh doanh và quản lý, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Luận văn đã hệ thống hóa và luận giải một số cơ sở lý luận về phát triển kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông di động tại Việt Nam. Trên cơ sở tổng quan kinh nghiệm phát triển kinh doanh dich vụ viễn thông của một số Tập đoàn Viễn thông lớn trên thế giới, luận văn đã rút ra một số bài học có giá trị tham khảo cho phát triển kinh doanh dịch vụ viễn thông di động cho EVN Telecom, đồng thời rút ra những kết quả đạt được, những điểm yếu, những hạn chế mà doanh nghiệp cần phải khắc phục.
- Phạm Trương Mỹ Chi (2013). “Chiến lược kinh doanh dịch vụ thông tin di động tại Trung tâm thông tin di động khu vực IIIT (VMS - ITI)”. Luận văn thạc sỹ quan tri kinh doanh, Đại học Da Nẵng. Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề về lý luận liên quan đến hoạt động hoạch định chiến lược cấp đơn vị kinh doanh trong doanh nghiệp.
Góp phần đánh giá bức tranh tổng quan về thị trường dịch vụ thông tin di động tại miền Trung và Tây Nguyên. Phân tích chiến lược kinh doanh hiện nay từ đó xây dựng chiến lược tối ưu cho VMSIII. Tất cả các tài liệu, các công trình nghiên cứu trên đều đưa ra một số giải pháp khá hữu ích về công tác xây dựng chiến lược kinh doanh dịch vụ viễn thông di động tại các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề này của từng doanh nghiệp cụ thể, ở từng giai đoạn là khác nhau, do đó tác giả lựa chọn nghiên cứu vê vân đê hoàn thiện chiên lược kinh doanh tại Tập đoàn viên thông quân đội Viettel.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ tiếp tục kế thừa những thành quả của những công trình nghiên cứu trước đó, vận dụng vào điều kiện cụ thể tại Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel). Tiếp tục bố sung các nội dung cần thiết để đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhất cho việc hoàn thiện chiến lược kinh doanh tại Tập đoàn viễn thông Quân đội (Viettel). Khái quát chung về chiến lược kinh doanh 1. Khái niệm về chiến lược, chiến lược kinh doanh Trên thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về chiến lược.
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu khác nhau và vào từng thời kỳ phát triển khác nhau mà các nhà kinh tế có những quan niệm khác nhau về chiến lược. Năm 1962, Alfred Chandler định nghĩa chiến lược như là “việc xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động va phân bé các tài nguyên thiết yếu dé thực hiện các mục tiêu do” .6] Đến những năm 1980 Qinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn “ chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách và chuỗi hành động vào một tổng thé được cô kết một cách chặt chế”. David: “Chiến lược là những phương tiện đạt tới mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh”.
Porter: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc dé phòng thu” .4] Ngoài cách tiếp cận kiểu truyền thống như trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lược theo cách mới: Chiến lược kinh doanh là hệ thống các mục tiêu dài hạn, các chính sách và biện pháp chủ yêu về sản xuât kinh doanh về tài chính và về giải quyết nhân tổ con người nhằm đưa doanh nghiệp phát triển lên một bước mới về chất. Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lược kinh doanh được dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: - Xác lập mục tiêu dai hạn của doanh nghiệp, - Đưa ra các chương trình hành động tong quát, - Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó Trong khuôn khổ luận văn nay, tác giả tiếp cận chiến lược theo hướng: chiến lược kinh doanh là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa.2 Nội dung của chiến lược kinh doanh > Tuyên bé sứ mệnh Một tuyên bố sứ mệnh xác định mục đích cốt lõi của doanh nghiệp, trả lời câu hỏi tại sao nó tồn tại? Không giống như các chiến lược và mục tiêu vốn có thé đạt được theo thời gian, doanh nghiệp không bao giờ thực sự hoan thành sứ mệnh của mình. Sứ mệnh đóng vai trò như chiếc đèn hiệu cho công việc của doanh nghiệp, doanh nghiệp không ngừng theo đuổi nó nhưng chăng bao giờ đạt được cả.
Ở nước ta thuật ngữ sứ mệnh thường ít được sử dụng ma thường sử dụng những thuật ngữ tương đương như tôn chỉ, mục đích hoặc chức năng nhiệm vụ. Các tuyên bố sứ mệnh hiệu quả có các đặc điểm: - Tạo nên sự thay đôi Mặc dù sứ mệnh của doanh nghiệp không thay đổi nhưng nó phải tạo ra sự thay đổi to lớn trong doanh nghiệp. Vì sứ mệnh không bao giờ có thé được công nhận đầy đủ nên nó sẽ thúc day doanh nghiệp tiến lên phía trước. - Có tính dài hạn Trong khi các chiến lược và kế hoạch chắc chan thay đổi theo thời gian thì sứ mệnh vẫn là nền tảng của doanh nghiệp, nó như cái cọc trên mặt đất cho những quyết định tương lai.
- Dễ hiểu và dé truyền đạt Một sứ mệnh thuyết phục va dé nhớ là một sứ mệnh thấm sâu vào lòng moi người, nói với họ và khuyến khích họ phục vụ cho mục đích của tô chức. David Packard, lãnh đạo Công ty Hewlett — Packard năm 1960 đã nói vé ban chất của sứ mệnh như sau: Một nhóm người tập trung lại và tồn tại như một thé chế mà chúng ta gọi là công ty dé họ có thé cùng nhau hoàn thành một điều gì đó mà nếu tách rời thì họ chăng thé làm được — họ tạo ra sự đóng góp cho xã hội. tạo ra một điều gì đó có giá trị. > Các giá trị Các giá trị là nguyên tắc tồn tại mãi mãi để dẫn dắt một doanh nghiệp.
Chúng đại diện cho những niềm tin sâu sắc trong doanh nghiệp và được thể hiện thông qua cách hành xử hàng ngày của tất cả các nhân viên. Các giá trị của một doanh nghiệp tạo ra lời tuyên bố mở về cách hành xử mà doanh nghiệp mong muốn ở các nhân viên. Trong nhiều doanh nghiệp, các giá trị cốt lõi đại diện cho những niềm tin cá nhân mạnh mẽ của người sáng lập hay giám đốc điều hành. Cũng như các bậc cha mẹ, các nhà lãnh dao của doanh nghiệp sẽ là người thiết lập tinh than chung cho các giá tri trong doanh nghiệp.
Trong thực tế, tất cả các tô chức đều có một tập hợp nhiều gia tri. Van dé quan trọng là liệu những giá tri này có được nhận thức,được chia sẻ và tro nên sống động không, hay chúng van nam nguyên một xó, không ai biết đến và nói đến chúng. Khi các giá trị không được định nghĩa, văn hóa của tổ chức phụ thuộc vào tính cách thất thường của người lãnh đạo. Việc thiết lập giá trị và các nguyên tắc cho doanh nghiệp nhằm dẫn dắt các quyết định kinh doanh không thể được coi là một sự kiện chỉ diễn ra một lần, các giá trị phải được nuôi dưỡng không ngừng dé tồn tai.
> Tam nhìn Dựa trên sứ mệnh và những giá tri, tam nhìn có nghĩa là su chuyền đổi quan trọng từ sứ mệnh và các giá trị cốt lõi vững chắc thành một chiến lược khí thế và năng động. Một tuyên bố tầm nhìn cho thấy bức tranh toàn cảnh mà doanh nghiệp dự định đạt được trong tương lai, có thể 5, 10 hay 20 năm sau. Tuyên bố này không nên trừu tượng, nó phải thé hiện càng cụ thể càng tốt tình trạng mong muốn va tao dung cơ sở cho việc hình thành các chiến lược và mục tiêu. Một tuyên bó tầm nhìn hiệu quả có các đặc điểm sau: Ngắn gon, co SỨC hap dan đối với tat cả các bên liên quan, có thé xác minh được, khả thi, tạo cảm hứng.