CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHIẾN LƯỢC KINH DOANH VÀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC CÁP ĐƠN VỊ KINH DOANH 1. KHÁI NIỆM CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Lý thuyết dựa vào lợi thế cạnh tranh Chiến lược được định nghĩa “ sự phù hợp mà tổ chức tạo ra giữa các nguồn lực, kĩ năng, bên trong và những cơ hội, thách thức từ môi trường bên ngoài”[1]. Trong thập niên 80, nguyên tắc phát triển trong phân tích chiến lược.
tập trung vào mối liên kết giữa chiến lược và môi trường bên ngoài. Điển hình là phân tích của Michael Porter về cấu trúc ngành, định vị cạnh tranh và các nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện bởi dự án PIMS (Profit Impact of Market Strategy) [2]. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chiến lược với nguồn lực và kĩ năng của công ty không được quan tâm một cách thích đáng. Hầu hết các nghiên cứu trong phân tích chiến lược về môi trường bên trong của tổ chức quan tâm đến vấn đề thực hiện chiến lược và phân tích quá trình tổ chức phát sinh chiến lược.
[3] Gan đây người ta quan tâm nhiều hơn vào vai trò của nguồn lực tổ chức, coi đó. như là nền tảng cho chiến lược công ty. Điều quan tâm này phản ánh sự không hài lòng với khuôn khổ cân bằng tĩnh của môn học kinh tế tổ chức ngành vốn đã trở thành quan điềm thống trị trong hầu hết những suy nghĩ hiện tại về chiến lược công ty và cũng đánh dấu sự trở lại của lý thuyết cũ về lợi nhuận và cạnh tranh liên quan đến những bài báo của David Ricardo, Joseph Schumpeter và Edith Penrose. [4] Sự thay đổi này xuất hiện trên một số phương diện.
độ công ty, lý thuyết về kinh tế và phạm vi kinh doanh tập trung đến vai trò nguồn lực công ty dựa vào những rào cản kinh tế và giới hạn địa lý của hoạt động trong kinh tế. [5] Ở mức độ chiến lược, khám phá mối quan hệ giữa nguồn lực, cạnh tranh và lợi nhuận bao gồm những phân tích cạnh tranh, [6] lợi nhuận thu được từ cải tiến, [7] vai trò của thông tin mơ hồ tạo ra sự khác biệt về lợi nhuận giữa công ty cạnh tranh, [8] và cách thức mà nguồn lực mà công ty duy trì lợi thế cạnh tranh. [9] Những điều này tạo nên quan điểm “ dựa vào nguồn lực công ty”. Tuy nhiên, thực hiện quan điểm “ dựa vào nguồn lực” đối với việc quản lý chiến lược là không rõ ràng bởi 2 lý do sau.
Trước hết, những lý thuyết này thiếu mô hình thích hợp. Thứ hai, không có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện lý thuyết này trong thực tiễn. Trong phần này đưa ra quá trình quan trọng dựa vào thiết lập mô hình cho việc thực hiện chiến lược theo quan điểm dựa vào nguôn lực có thé tích hợp những đặc điểm quan trọng. Mô hình với 5 quá trình của thực hiện chi lược: phân tích dựa vào nguồn lực của công ty; đánh giá khả năng công ty; phân tích tiềm năng kinh tế trong nguồn lực và khả năng công ty; lựa chọn lược, và mở rộng và phát triển nguồn lực và khả năng của công ty.
Lựa chọn chiến lược để khai thác. tốt nhất các nguồn lực và những khả |_—+[ CHIẾN LƯỢC năng của công ty liên hệ với các co hội ở bên ngoài. Đánh giá tiềm năng kinh tế của nguyên thiếu hụt nguồn lực và khả năng về mặt: căn được bô xung. (a) Tiềm năng về lợi thế cạnh tranh LỢI THÊ i 2 bên vững của chúng (im năng kinh *| CANH TRANH xi Nâng CỬ tế của nguồn lực và khả năng), và + cấp nguồn lực.
(b) Kha năng thích đáng về lợi nhuận nòng cốt của công của chúng ty. Xác định những khả năng của công ty: Điều gì công ty có thể làm. hiệu quả hơn đối thủ của nó? Xác - |Ƒ——*[_ KHẢ NĂNG định các nguồn lực để cung cắp cho + mỗi khả năng, và sự phức tạp của mỗi khả năng. Xác định và phân loại các nguồn lực của công ty.
Xác định điểm mạnh và - điểm yếu liên hệ tới đối thủ cạnh —*| NGUONLUC }¢—————— tranh. Xác định các cơ hội để sử dụng các nguồn lực tốt hơn Hình 1. Phân tích dựa trên nguôn lực a. Nguôn lực và khả năng - Nền tăng của chiến lược Xem xét nguồn lực và khả năng của công ty như nền tảng chiến lược lâu dài dựa trên yếu tố: trước hết, nguồn lực và khả năng bên trong tổ chức giúp cho công ty có những định hướng cơ bản về chiến lược, thứ hai, nguồn lực và khả năng là tài sản quan trọng tạo giá trị cho công ty.
Thứ nhất: Nguồn lực và khả năng xem như nguồn mang tính định hướng. Điểm khởi đầu cho việc xây dựng chiến lược phải từ việc xem xét các tuyên bố về mục đích và đặc điểm nhận dạng của tổ chức — thông thường đó là bản tuyên bố sứ mệnh. Trong đó, tổ chức trả lời câu hỏi “ Chúng ta kinh doanh gì”. Một định nghĩa kinh doanh như vậy thường hướng đến thị trường mà doanh nghiệp phục vụ, bao gồm “khách hàng của chúng ta là ai” và * chúng ta tìm cách phục vụ_nhu cầu gì của khách hàng”.
Tuy nhiên trong thế giới kinh doanh mà nhu cầu của khách hàng thay đồi liên tục, đặc điểm nhận dạng khách hàng cũng đang thay đổi nhanh chóng, và công nghệ để phục vụ cũng tiến triển không ngừng, việc định hướng tập trung vào môi trường bên ngoài không thể cung cấp những nền tảng vững chắc cho. thực hiện chiến lược lâu dài. Khi môi trường bên ngoài thay đổi liên tục không thê dự đoán được, nguồn lực và khả năng của công ty có thể là nền tảng ôn định hơn rất nhiều để nhận dạng doanh nghiệp. Vì vậy, định nghĩa công ty trên phương diện khả năng của nó có thể cung cấp một nền tảng vững chắc cho lược hơn định nghĩa dựa vào nhu cầu mà công ty tìm cách đáp ứng.
Thứ hai: Nguồn lực — Nền tảng lợi nhuận của công ty. Khả năng của công ty có được tỷ suất lợi nhuận vượt quá chỉ phí vốn của nó phụ thuộc vào. nhân tố: sự hấp dẫn của ngành kinh doanh mà công ty tham gia, và khả năng thiết lập lợi thế cạnh tranh so với đối thủ cạnh tranh. Kinh tế học tô chức ngành nhắn mạnh vào tính hấp dẫn của ngành như là nền tảng chủ yếu của khả năng sinh lợi vượt trội, hàm ý rằng quản trị chiến lược chủ yếu liên quan đến tìm kiếm môi trường ngành thuận lợi, tham gia vào các phân đoạn và nhóm chiến lược có tính hấp dẫn cao trong ngành, và điều chỉnh áp lực cạnh tranh thông qua cấu trúc ngành và hành vi của các đối thủ cạnh tranh.
Tuy nhiên các bằng chứng thực tế cho thấy không có mối liên hệ giữa cấu trúc ngành và khả năng sinh lợi. Hầu hết nghiên cứu chỉ ra rằng sự khác biệt về khả năng sinh lợi trong một ngành là quan trọng hơn rất nhiều sự khác biệt giữa các ngành. [10] Những lý do này không khó xác định, đó là: cạnh tranh quốc tế, sự thay đổi công. nghệ và sự đa dạng của công ty đã khiến cho ngành công nghiệp trước đây dễ đàng trong việc tạo lợi nhuận thì bây giờ lại đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt Việc nhận ra lợi thé cạnh tranh, chứ không phải môi trường bên ngoài, là 10 nguồn chủ yếu tạo khác biệt lợi nhuận giữa các công ty đã khiến doanh nghiệp.
tập trung vào nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh từ bên trong. Mặc dù khái niệm. chiến lược cạnh tranh có xu hướng nhắn mạnh vào vấn đề định vị chiến lược thông qua việc lựa chọn giữa lợi thế về chỉ phí và lợi thế gây khác biệt, giữa phạm vi thị trường hẹp và rộng, nền tảng của lựa chọn này là định vị nguồn lực cho công ty. Chẳng hạn, khả năng thiết lập lợi thế chỉ phí đòi hỏi phải có tính hiệu quả về qui mô, công nghệ vượt t hữu nguyên vật liệu chỉ phí thấp hay dễ dàng tiếp cận với nguồn nhân lực chỉ phí thấp.
Tương tự, lợi thế tạo sự khác biệt dựa trên danh tiếng nhãn hiệu, công nghệ độc quyền, hay sự mở rộng mạng lưới bán hàng và dịch vụ. Từ điều này có thể rút ra kết luận: chiến lược kinh doanh ít được nhìn nhận như tìm kiếm lợi lộc từ độc quyền (hưởng lợi từ sức mạnh thị trường) và thường được coi là hưởng lợi theo cách của những người theo trường phái Ricacdo (thu nhập từ nguồn lực tạo nên lợi thế cạnh tranh vượt trên chỉ phí của nguôn lực này). Một khi các nguồn lực này bị suy giảm, lạc hậu hay bị bắt chước bởi công ty khác, thì những lợi lộc từ những nguồn lực này sẽ biến mắt. Hơn nữa, nếu nhìn kỹ hơn vào sức mạnh thị trường, và lợi nhuận độc quyền thì cũng thấy rằng nó có nền tảng từ nguồn lực công ty.
Điều kiện tiên quyết cơ bản của sức mạnh trị trường là sự hiện diện của các rào cản thâm nhập. [1 1] Những rào cản thâm nhập dựa trên tính kinh tế về qui mô, bằng sáng chế, lợi thế kinh nghiệm, danh tiếng nhãn hiệu hay những nguồn lực mà công ty sở hữu nhưng đối thủ xâm nhập khó có thể đạt được một cách nhanh chóng hay với chỉ phí khó chấp nhận được. Những nguồn lực cấu trúc của sức mạnh thị trường cũng dựa vào nguồn lực công ty, chẳng hạn, quyên thiết lập giá độc quyền phụ thuộc vào thị phần tạo ra nhờ tính hiệu về chỉ phí, sức mạnh tài chính và những nguồn lực khác. Những nguồn lực này liên quan đến sức mạnh thị trường có thể được.
sở hữu bởi những công ty riêng lẽ, hay sở hữu trong mối liên kết các công ty. 1 Một tiêu chuẩn của ngành (làm tăng chỉ phí đầu thâm nhập), hay một sự thỏa thuận chung là nguồn lực được sở hữu chung bởi nhóm công ty trong ngành. Bằng sáng chế Thương hiệu Rao can dau vao Khả năng trừng phạt Tư bản độc quyền /®“—| Thị trường cô phần Năng lực thuyết |ZZ| Khuôn khổ công ty phục đỉnh cao. INN Nguồn lực tài chính Tỷ lệ lợi nhuận thặng dư của mức độ canh | Leng neh vợ ti tranh Loi thé + 2 Chỉ phí Quy mô a NN.
Tiếp cận chi phi đầu vào thấp. Loi thé Canh tranh. \ „ |_ Thương hiệu Lợi thế Công nghệ sản xuất Sự khác biệt | * MN Sự mở rộng mạng lưới bán hàng và dịch vụ Hình 1. Tóm tắt mỗi quan hệ giữa nguân lực và lợi nhuận b.
Đánh giá các nguồn lực công ty Có sự khác biệt rõ ràng giữa nguồn lực và khả năng.