CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH QUỐC TẾ 1. Khái niệm về đặc điểm CLKD 1. Khái niệm về CLKD Chưa có một định nghĩa thống nhất về chiến lược là gì. Chiến lược là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, đó là phương cách để chiến thắng trong một cuộc chiến tranh.
Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp của các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó. Vì vậy một cách hiểu đơn giản, chiến lược gồm có hai phần: mục tiêu và định hướng hành động. Ví dụ, trong quân sự, chiến lược khác với chiến thuật, chiến thuật đề cập đến việc tiến hành một trận đánh, trong khi chiến lược đề cập đến việc làm thế nào để liên kết các trận đánh với nhau nhằm giành chiến thắng toàn cục. Chiến lược mang tính chất định hướng còn chiến thuật mang tính chất kỹ thuật nhiều hơn.
Chiến lược nhắm đến mục tiêu lớn và tổng thể còn chiến thuật nhắm đến mục tiêu nhỏ và đơn lẻ. Như vậy một chiến lược phải giải quyết tổng hợp các vấn đề sau: - Xác định được chính xác mục tiêu cần đạt. - Xác định con đường, hay phương thức để đạt mục tiêu. - Và định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn.
Ngoài ba yếu tố này, cần chú ý, nguồn lực là có hạn và nhiệm vụ của chiến lược là tìm ra phương thức sử dụng các nguồn lực có hạn sao cho nó có thể đạt được mục tiêu một cách hiệu quả nhất. Vậy tóm gọn lại chiến lược là việc xác định mục tiêu và định hướng hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đó. Đến năm 50-60 thế kỷ 20, khái niệm chiến lược được sử dụng sang lĩnh vực kinh tế và xã hội. Thực tiễn phát triển kinh tế của quốc gia, doanh nghiệp hay thậm chí 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT cá nhân nảy sinh yêu cầu cấp bách đòi hỏi tính định hướng, những giải pháp mang tính toàn diện.
Vì vậy khái niệm Chiến lược kinh doanh được ra đời. Khái niệm chiến lược đã được nêu ở trên, để hiểu được chiến lược kinh doanh là gì, người viết tiếp tục đi vào khái niệm kinh doanh. Hoạt động kinh doanh đã được thực hiện từ rất lâu, với mục đích chính là lợi nhuận. Tuy nhiên lợi nhuận chỉ là phần bề nổi của mục đích kinh doanh.
Hoạt động kinh doanh chỉ được diễn ra khi các cá nhân và tổ chức trao đổi giá trị với nhau, mỗi bên nhận về giá trị mà bên kia tạo ra cho họ, sau đó trừ đi phần giá trị mà họ bỏ ra để trao cho bên kia, giá trị còn lại hay giá trị tăng thêm chính là lợi nhuận. Tuy nhiên nếu dừng lại ở đó, thì kinh doanh chỉ hạn hẹp trong việc thu lợi nhuận từ từng khách hàng trong ngắn hạn hay số lượng giao dịch ít. Mục đích này không còn đúng nữa trong kinh doanh hiện đại khi mà khách hàng có quá nhiều lựa chọn. Một doanh nghiệp có thể chịu lỗ trong ngắn hạn, có thể chịu thiệt trong các giao dịch với bạn hàng, nhưng đổi lại trong dài hạn, sẽ được hỗ trợ rất nhiều từ các đối tác này.
Doanh nghiệp gây dựng được uy tín với càng nhiều khách hàng, trong thời gian càng dài thì giá trị của doanh nghiệp đó càng lớn. Mục đích cuối cùng của kinh doanh là lợi nhuận, hay tối đa hóa giá trị doanh nghiệp, nhưng phải thông qua bằng phương tiện là việc xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Từ đây chúng ra đưa ra khái niệm kinh doanh: Kinh doanh là những hoạt động tìm kiếm lợi nhuận nhằm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp thông qua xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng. Khi đã hiểu chiến lược và kinh doanh là gì, có thể khái quát phần nào về chiến lược kinh doanh.
CLKD là các kế hoạch hành động và bước đi của doanh nghiệp trong thời gian dài nhằm đạt mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Đặc điểm của CLKD 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT CLKD cho dù mang tính định hướng những cũng có các yếu tố cụ thể cấu thành. Theo Hambrick, Donald C. và Fredrickson, James; một CLKD tốt cần phải xác định đủ 5 yếu tố sau đây: Hình 1.1: Mô hình 5 yếu tố CLKD của Hambrick, Donald C.
và Fredrickson, James Thứ nhất, phân vùng cạnh tranh (Arenas): Muốn cạnh tranh hiệu quả, doanh nghiệp phải thật rõ ràng về nơi mà họ sẽ chiến đấu, bao gồm danh mục sản phẩm, kênh, mảng thị trường, vị trí địa lý, công nghệ cốt lõi, cách tạo giá trị… Nếu xác định sai phân vùng cạnh tranh, thất bại là điều tất yếu. Thứ hai, phương tiện (Vehicles): cách thức cạnh tranh – ví dụ như: phát triển bên trong, liên doanh, nhượng quyền thương mại, sáp nhập… 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT Thứ ba, tác nhân phân biệt hóa (Differentiators) – doanh nghiệp sẽ chiến thắng trên thị trường như thế nào? Bằng hình ảnh, tùy biến, giá, phong cách, sự tin cậy về sản phẩm hay tốc độ thâm nhập. Thứ tư, phân kỳ (Staging and pacing): tốc độ mở rộng, chuỗi các sang kiến của doanh nghiệp. Thứ năm, tính thuyết phục kinh tế (Economic logic): doanh nghiệp đạt lợi nhuân thông qua tính kinh tế theo quy mô, dịch vụ cao cấp hay yếu tố độc quyền trong sản phẩm? 1.
Chiến lược kinh doanh quốc tế 1. Khái niệm và đặc điểm CLKDQT 1. Khái niệm Khi mà doanh nghiệp có vị thế vững chắc trong nước, việc vươn ra nước ngoài là điều gần như tất yếu. Điều này có thể thấy rõ ở các công ty, tập đoàn lớn ở Việt Nam tấn công sang các thị trường trong khu vực và thế giới (FPT ở Philipines, Viettel ở Peru, Mozambique).
Khi thâm nhập thị trường nước ngoài, điều đương nhiên là phải có chiến lược phù hợp. Bởi vì các quốc gia có điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, vị trí địa lý, nhân khẩu học là khác nhau (thiên thời, địa lợi, nhân hòa) nên không thể áp dụng toàn bộ chiến lược kinh doanh trong nước sang thị trường nước ngoài. CLKDQT là một bộ phận trong CLKD của doanh nghiệp, nhằm thâm nhập và mở rộng thị trường trên quy mô quốc tế, góp phần tăng trường tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp và cả tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp. Vậy có thể nói : CLKDQT là một bộ phận của CLKD của doanh nghiệp, là sự mở rộng các hoạt động của doanh nghiệp sang thị trường quốc tế trên cơ sở huy động, phân bổ và phối hợp các nguồn lực cần thiệt để đạt mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp.
Đặc điểm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TrongHieuKCT Hoạt động kinh doanh quốc tế diễn ra giữa 2 hay nhiều quốc gia, được thực hiện trong môi trường kinh doanh mới, vì vậy doanh nghiệp không thể lấy kinh nghiệm thực hiện việc kinh doanh ở nội địa áp đặt hoàn toàn cho kinh doanh với nước ngoài. Sự khác nhau giữa kinh doanh trong nước và kinh doanh quốc tế thể hiện ở: Thứ nhất, trong kinh doanh quốc tế, các doanh nghiệp phải làm việc trong môi trường văn hóa khác biệt với ngôn ngữ, hệ thống giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử khác biệt. Mỗi doanh nghiệp sẽ có cơ hội gặp gỡ khách hàng và đối tác khác nhau với những lối sống, những quy tắc và những thói quan tiêu dùng hoàn toàn khác biệt. Vì vậy doanh nghiệp cần phải chuẩn bị kĩ lưỡng khi thâm nhập thị trường mới.
Thứ hai, kinh doanh với nước ngoài thường gặp nhiều rủi ro hơn. Điều này thể hiện ở rủi ro văn hóa, rủi ro chính trị- pháp lý và rủi ro kinh tế-thương mại. Việc gặp rủi ro là điều hiển nhiên khi kinh doanh ở nước ngoài, khác với thị trường trong nước với những thói quen, tập quán, cơ chế quen thuộc. Thứ ba, doanh nghiệp phải thích ứng nhanh trong môi trường kinh doanh quốc tế.
Khi thâm nhập vào thị trường mới, doanh nghiệp phải đối mặt với đối thủ cạnh tranh đến từ nước sở tại hoặc các đối thủ quốc tế đã có mặt từ trước, nếu không thích ứng kịp thời với môi trường mới, không tạo được vị thế trong tiêu dùng của khách hàng, doanh nghiệp dễ dàng bị loại bỏ. Thứ tư, môi trường quốc tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng phạm vi thị trường, tăng lợi nhuận, điều này khó đạt được khi chỉ kinh doanh trong nước. Nếu chỉ kinh doanh đơn thuần ở thị trường nội địa dễ dần đến tình trạng bão hòa do siêu cạnh tranh từ các đối thủ trong nước. Chưa hết, với thực trạng hội nhâp mạnh mẽ như hiện nay, doanh nghiệp trong nước phải đối mặt với hàng hóa từ bên ngoài với chất lượng thậm chí vượt trội hơn.
Vì vậy, thâm nhập thị trường nước ngoài là một phương án hữu hiệu vừa giải quyết đầu ra sản phẩm, vừa tận dụng được nguồn lực sẵn có từ bên ngoài mà trong nước không có hay phải nhập khẩu với giá cao. Nhân tố ảnh hưởng đến CLKDQT 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhân tố bên trong Chiến lược kinh doanh đầu tiên phải dựa vào nguồn lực bên trong của doanh nghiệp để hình thành, đánh giá đúng nguồn lực để hình thành chiến lược phù hợp nhằm tránh lãng phí. Nguồn lực bên trong của doanh nghiệp bao gồm 4 thành phần chính: Thứ nhất, tài sản cố định hữu hình: đất đai , nhà xưởng , máy móc,thiết bị, vật kiến trúc.
Tài sản cố định hữu hình là một bộ phận của tư liệu sản xuất, giữ vai trò tư liệu lao đông chủ yếu của quá trình sản xuất. Chúng được coi là cơ sở vật chất kỹ thuật có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện tăng năng suất lao động xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân. Từ góc độ vi mô, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất chính là yếu tố để xác định quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Từ góc độ vĩ mô, đánh giá về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của toàn bộ nền kinh tế quốc dân có thực lực vững mạnh hay không.
Chính vì vậy, trong sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp nói riêng cũng như của toàn bộ nền kinh tế nói chung, tài sản hữu hình là cơ sở vật chất và có vai trò cực kì quan trọng.