Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Chương 2: Khái quát hoạt động kinh doanh của Khách sạn Ninh Kiều 2 và phân tích môi trường kinh doanh của khách sạn Ninh Kiều 2 đến 2020 và tầm nhìn 2025. Chương 3: Hoạch định chiến lược và giải pháp triển khai chiến lược kinh doanh khách sạn Ninh Kiều 2 đến 2020 và tầm nhìn 2025. Kết Luận và kiến nghị.
7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Chương này nhằm (1) khái quát những khái niệm, vai trò , và các yêu cầu quản trị chiến lược, (2) trình bày các chiến lược trong hoạt động kinh doanh, (3) quy trình xây dựng và chọn lựa chiến lược, và (4) phân tích và lựa chọn chiến lược. Giai đoạn quyết định để lựa chọn chiến lược là ma trận hoạch định chiến lược có thể định lượng (QSPM).1 Khái niệm, vai trò, yêu cầu chiến lƣợc và quản trị chiến lƣợc 1.1 Khái niệm chiến lược và quản trị chiến lược a. Khái niệm chiến lƣợc Công ty hoạt động mà không có chiến lược ví như một người đi trên đường mà không xác định mình đi đâu, về đâu, cứ mặc cho đám đông (thị trường và đối thủ) đẩy theo hướng nào thì dịch chuyển theo hướng đấy. Nếu cứ tiếp tục đi như vậy thì mãi mãi người ấy sẽ chỉ là một người tầm thường lẫn mình trong đám đông.
Trong bất kỳ một cuộc đối đầu nào, đối thủ nào áp đặt được lối chơi của mình lên đối phương thì sẽ là người có nhiều cơ hội chiến thắng hơn. Như vậy, chiến lược rõ ràng là một yêu cầu bắt buộc đối với những công ty có tham vọng đứng ở vị trí đầu đàn. Thế còn những người không có tham vọng chiếm giữ vị trí đầu đàn thì liệu có cần phải có chiến lược?. Có, bạn vẫn cần phải có chiến lược nếu không muốn bị những người khác trong đàn chèn ép và cuối cùng bị loại khỏi cuộc chơi.
Hiện tại có nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược, nguyên nhân của sự khác nhau này là do có nhiều quan niệm khác nhau về tổ chức nói chung và các phương pháp tiếp cận khác nhau về chiến lược của tổ chức nói riêng. Theo Johnson và Scholes, chiến lược được định nghĩa như sau: “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức. Theo định nghĩa này, chiến lược của một doanh nghiệp được hình thành để trả lời các câu hỏi sau: Hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra ở đâu trong dài hạn? (định hướng) Hoạt động kinh doanh sẽ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nào và phạm vi các hoạt động? (thị trường, phạm vi hoạt động). Bằng cách nào hoạt động kinh doanh được tiến hành tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh trên thị trường? (lợi thế).
8 Nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, nhân sự, công nghệ, thương hiệu…) cần thiết để tạo ra lợi thế cạnh tranh? (nguồn lực). Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp? (môi trường). Theo Michael Porter (1996), “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau, cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm”.
Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm. Bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh, chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động duy nhất. Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt. Chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp là một chương trình hành động tổng quát hướng tới việc thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp.
Chiến lược không nhằm vạch ra một cách cụ thể làm thế nào để đạt được những mục tiêu đó vì đó là nhiệm vụ của vô số các chương trình hỗ trợ, các chiến lược chức năng khác. Chiến lược chỉ tạo ra bộ khung để hướng dẫn tư duy và hành động. David (2015), “Chiến lược là những phương tiện để thực hiện các mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể bao gồm việc mở rộng về địa lý, đa dạng hóa, mua lại, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm, thoái vốn, thanh lý và liên doanh”.13] Chiến lược là những hành động tiềm năng đòi hỏi quyết định ở tầm lãnh đạo cấp cao và nguồn lực đáng kể của công ty.
Ngoài ra, chiến lược ảnh hưởng đến sự thịnh vượng lâu dài của một tổ chức, thường ít nhất là năm năm, và theo đó là định hướng cho tương lai. Chiến lược có hệ quả trên nhiều chức năng và nhiều bộ phận và cần xem xét cả các yếu tố bên trong và bên ngoài mà công ty phải đối mặt [8; tr. Quản trị chiến lƣợc Có nhiều tác giả nghiên cứu về chiến lược, sự nhìn nhận của các tác giả về quản trị chiến lược có những điểm khác nhau từ đó cách trình bày khác nhau. Theo Alfred Chandler (Đại học Havard), “Quản trị chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của tổ chức, lựa chọn cách thức hoặc phương hướng hành động và phân bổ tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó”.
David, Quản trị chiến lược có thể được định nghĩa là nghệ thuật và khoa học xây dựng, triển khai và đánh giá các quyết định xuyên các chức năng (cross-function decisions) nhằm giúp tổ chức có thể đạt được mục 9 tiêu. Theo định nghĩa này, quản trị chiến lược tập trung vào việc tích hợp quản trị, marketing, tài chính/ kế toán, sản xuất/ vận hành, R&D và hệ thống thông tin nhằm mang lại thành công cho tổ chức. Thuật ngữ Quản trị chiến lược được dùng tương đương với thuật ngữ hoạch định chiến lược (strategic planning). Thuật ngữ sau thường được dùng trong giới kinh doanh, trong khi thuật ngữ đầu tiên thì phổ biến trong giới học thuật.
Đôi khi thuật ngữ Quản trị chiến lược được dùng để chỉ việc phát triển, triển khai và đánh giá chiến lược còn hoạch định chiến lược chỉ đề cập đến việc xây dựng chiến lược. Mục đích của Quản trị chiến lược là để tận dụng và tạo ra các cơ hội mới và khác biệt cho tương lai; hoạch định dài hạn, mặt khác, nhằm nỗ lực tối ưu các xu hướng hiện tại để phục vụ cho tương lai [8; tr. Trong các quan điểm về chiến lược của các tác giả như đã nêu trên thì mỗi quan điểm tiếp cận chiến lược theo một cách khác nhau, tuy nhiên các học thuyết này đều dẫn các nhà quản trị đến mục tiêu cần đạt được. Và trong quá trình nghiên cứu tác giả chọn quan điểm phù hợp với doanh nghiệp để biện luận cho nghiên cứu của mình.
Vai trò của quản tri ̣chiế n lươ ̣c Quản trị chiến lược giúp các doanh nghiệp định hướng rõ được tầm nhìn, sứ mạng (nhiệm vụ) và mục tiêu của mình. Muốn quản trị chiến lược có hiệu quả doanh nghiệp phải quản lý tốt hệ thống thông tin môi trường kinh doanh. Dựa vào những thông tin đó, các nhà quản trị có thể dự báo được các xu hướng biến động của môi trường kinh doanh và xác định thị trường mà doanh nghiệp cần phát triển hay thâm nhập trong tương lai. Quản trị chiến lược cho phép một tổ chức chủ động thay vì bị động đối phó với việc định hình tương lai của chính mình.
Điều này cho phép một tổ chức khởi đầu và tạo ảnh hưởng (thay vì chỉ phản ứng) với các hoạt động – và do đó có khả năng kiểm soát số phận của mình. Chủ doanh nghiệp nhỏ, tổng giám đốc, Chủ tịch và các nhà quản lý của nhiều tổ chức phi lợi nhuận và vì lợi nhuận đã công nhận và nhận thấy lợi ích của quản trị chiến lược [8; tr. Các yêu cầu khi quản trị chiế n lươ ̣c Chiến lược kinh doanh phải đạt được mục đích tăng thế mạnh của doanh nghiệp và giành lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Vì chiến lược kinh doanh thật sự cần thiết khi có cạnh tranh trên thị trường.
Muốn đạt được mục đích này, khi xây dựng chiến lược phải triệt để khai thác lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp mình, tập trung các biện pháp tận dụng thế mạnh (hơn là dùng quá nhiều công sức cho việc khắc phục các điểm yếu). Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo kiểm soát rủi ro kinh doanh cho doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh chứa đựng yếu tố rủi ro mà các doanh nghiệp 10 thường phải đương đầu. Vì thế quản trị rủi ro trong kinh doanh nhiều khi là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp.
Phải xác định mục tiêu và những nguồn lực cơ bản để thực hiện mục tiêu. Phải đảm bảo sao cho nguồn lực được bố trí một cách hợp lý nhất, tránh dàn trải nguồn lực, hoặc không sử dụng hết nguồn lực. Trong phạm vi kinh doanh nhất định, doanh nghiệp cần định ra mục tiêu ưu tiên phải đạt được phù hợp với điều kiện cụ thể của mình. Các mục tiêu này phải rõ ràng và phải đo được bằng định tính hay định lượng.
Cùng với mục tiêu, cần có hệ thống các chính sách, biện pháp và nguồn lực làm tiền đề cho việc thực thi các mục tiêu đó. Phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai. Việc dự đoán này càng chính xác thì chiến lược kinh doanh càng dễ thực hiện, kết quả càng gần với mục tiêu. Muốn có dự đoán tốt, cần có một khối lượng thông tin đủ lớn và đầy đủ, đồng thời phải kết hợp với các phương pháp tư duy đúng đắn để có cái nhìn thực tế phù hợp với khách quan về những gì mà doanh nghiệp có thể gặp phải trong hoạch định và thực hiện chiến lược.
Phải có chiến lược dự phòng. Khi xây dựng chiến lược kinh doanh phải tính đến kế hoạch ứng phó với các biến cố bất lợi và có lợi trước khi chúng xảy ra, những biến động của môi trường kinh doanh ảnh hưởng đến sự thành công của chiến lược. Và trong tình hình đó sẽ có những chiến lược thay thế phù hợp để ứng phó với những thay đổi mà trong quá trình hoạch định chiến lược chưa dự đoán được hết.