phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng Chƣơng 1: Tổng quan và Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lƣợc kinh doanh. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích căn cứ hoạch định chiến lƣợc kinh doanh dịch vụ viễn thông tập đoàn viễn thông Việt Nam chi nhánh Hƣng Yên Chƣơng 4: Đề xuất chiến lƣợc kinh doanh dịch vụ viễn thông Tập đoàn viễn thông Việt Nam chi nhánh Hƣng Yên 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƢỢC KINH DOANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ngày nay, các doanh nghiệp Việt ngày càng chú trọng đến công tác hoạch định chiến lƣợc kinh doanh, coi đó nhƣ là kim chỉ nam cho toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Chiến lƣợc kinh doanh trở thành một chủ đề nóng đƣợc nhiều học giả, nhà nghiên cứu tập trung phân tích.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu chiến lƣợc cạnh tranh ở mỗi giai đoạn là không giống nhau. Trải qua hơn 20 năm đổi mới, đất nƣớc ta ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Chiến lƣợc kinh doanh, năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững trở thành những thuật ngữ ngày càng thông dụng và đƣợc sử dụng rộng rãi trong các thành phần kinh tế. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thƣơng mại thế giới WTO, vấn đề chiến lƣợc kinh doanh, đặc biệt chiến lƣợc kinh doanh trong lĩnh vực viễn thông ngày càng có vai trò quan trọng trong việc tăng cƣờng năng lực cạnh trành và phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Một số nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến chiến lƣợc kinh doanh dịch vụ viễn thông có thể kể đến: “Mô hình lựa chọn chiến lƣợc cạnh tranh của doanh nghiệp Bƣu chính Viễn thông” tháng 3/2004 và “Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện môi trƣờng cạnh tranh của doanh nghiệp Bƣu chính Viễn thông” tháng 2/2005. Hoặc “Một số biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Bƣu chính viễn thông Việt Nam trong cung cấp dịch vụ viễn thông” tháng 4/2005. Tuy nhiên, những nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở phân tích và giải quyết những vấn đề riêng lẻ trong chiến lƣợc.Chƣa có nhiều nghiên cứu tập trung vào hoạch định chiến lƣợc cho doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông trong thời kỳ mới. Đặc biệt chƣa có một nghiên cứu nào liên quan đến hoạch định chiến lƣợc kinh doanh dịch vụ viễn thông cho tập đoàn bƣu chính viễn thông Việt Nam chi nhánh Hƣng Yên.
Do đó, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “hoạch định chiến lƣợc 5 z kinh doanh dịch vụ viễn thông của tập đoàn Bƣu chính Viễn thông chi nhánh Hƣng Yên”. Luận văn khi đƣợc thực hiện sẽ giúp hệ thống hóa lý luận liên quan đến hoạch định chiến lƣợc kinh doanh đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông. Qua việc phân tích những căn cứ dùng để hoạch định chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp, tác giả đã hoạch định chiến lƣợc kinh doanh dịch vụ viễn thông của VNPT Hƣng Yên đến năm 2020 và đề xuất những giải pháp nhằm đạt đƣợc những chiến lƣợc đã lựa chọn. Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lƣợc kinh doanh 1.
Chiến lược kinh doanh 1. Khái niệm chiến lược kinh doanh Khái niệm chiến lƣợc có từ thời Hy Lạp cổ đại. Thuật ngữ này vốn có nguồn gốc sâu xa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” nghĩa là vai trò của vị tƣớng trong quân đội. Sau đó, nó phát triển thành “Nghệ thuật của tướng lĩnh” nói đến các kỹ năng hành xử và tâm lý của tƣớng lĩnh.
Đến khoảng năm 330 trƣớc công nguyên, tức là thời Alexander Đại đế chiến lƣợc dùng để chỉ kỹ năng quản trị để khai thác các lực lƣợng để đè bẹp đối phƣơng và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục. Trong lịch sử loài ngƣời, rất nhiều các nhà lý luận quân sự nhƣ Tôn Tử, Alexander, Clausewitz, Napoleon, Stonewall Jackson, Douglas MacArthur đã đề cập và viết về chiến lƣợc trên nhiều góc độ khác nhau. Luận điểm cơ bản của chiến lƣợc là một bên đối phƣơng có thể đè bẹp đối thủ, thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn - nếu họ có thể dẫn dắt thế trận và đƣa đối thủ vào trận địa thuận lợi cho việc triển khai các khả năng của mình. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lƣợc, sự khác nhau giữa các định nghĩa thƣờng là do quan điểm của mỗi tác giả.
Năm 1962, Alfred Chandler một trong những nhà khởi xƣớng và phát triển lý thuyết về quản trị chiến lƣợc đã định nghĩa:“Chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của một tổ chức và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này”. Quinn đã định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là một dạng thức hay là một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau”. Sau đó năm 1999 Johnson và Schole định nghĩa lại chiến lƣợc trong điều kiện môi trƣờng có rất nhiều thay đổi nhanh chóng:“Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức trong dài hạn, nhằm đạt được lợi thế cho tổ chức thông qua cấu hình các nguồn lực của nó trong bối cảnh của môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu của thị trường và thoả mãn kỳ vọng của các bên hữu quan”. Ngoài cách tiếp cận kiểu truyền thống nhƣ trên, nhiều tổ chức kinh doanh tiếp cận chiến lƣợc theo cách mới: Chiến lƣợc kinh doanh là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực, tài sản, tài chính nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình.
Kenneth Andrews là ngƣời đầu tiên đƣa ra các ý tƣởng nổi bật này trong cuốn sách kinh điển “The Cencept of Corporate Strategy”. Theo ông, chiến lƣợc là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bổi cảnh có những cơ hội và cả những mối đe dọa. Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lƣợc vẫn là phác thảo hình ảnh tƣơng lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo cách hiểu này, thuật ngữ chiến lƣợc dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: Xác lập mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp.
Đƣa ra các chƣơng trình hành động tổng quát. Lựa chọn các phƣơng án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện mục tiêu đó. Ngày nay, hệ thống chiến lƣợc đang đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay bao gồm: chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, chiến lƣợc phát triển các ngành và lĩnh vực, chiến lƣợc phát triển các lãnh thổ (vùng lớn, vùng kinh tế trọng điểm, tỉnh, thành phố), chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Giữa các chiến lƣợc đó có mối quan hệ hữu cơ, chặt chẽ với nhau.
Có thể nói việc xây dựng và thực hiện chiến lƣợc thực sự đã trở thành một nhiệm vụ hàng đầu và là một nội dung, chức năng quan trọng của quản trị doanh 7 z nghiệp, nó đang đƣợc áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp. Quan điểm phổ biến hiện nay cho rằng: “Chiến lược là nghệ thuật phối hợp các hoạt động và điều kiển chúng nhằm đạt tới mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp”. Coi chiến lƣợc là một quá trình quản trị đã tiến tới quản trị doanh nghiệp bằng tƣ duy chiến lƣợc với quan điểm: Chiến lƣợc hay chƣa đủ, mà phải có khả năng tổ chức, thực hiện tốt mới đảm bảo cho doanh nghiệp thành công. Quản trị doanh nghiệp mang tầm chiến lƣợc.
Đây chính là quan điểm tiếp cận đến quản trị chiến lƣợc phổ biến hiện nay. Vai trò của chiến lược kinh doanh Trong cơ chế thị trƣờng hiện nay, việc xây dựng, thực hiện chiến lƣợc kinh doanh có ý nghĩa quan trọng với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vai trò của chiến lƣợc đối với doanh nghiệp đƣợc thể hiện trên các khía cạnh sau: Chiến lƣợc kinh doanh giúp cho doanh nghiệp nhận rõ đƣợc mục đích, hƣớng đi của mình trong tƣơng lai làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chiến lƣợc đóng vai trò định hƣớng hoạt động trong dài hạn của doanh nghiệp, nó là cơ sở vững chắc cho việc triển khai các hoạt động tác nghiệp.
Sự thiếu vắng chiến lƣợc hoặc chiến lƣợc đƣợc thiết lập không rõ ràng, không có luận cứ vững chắc sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp mất phƣơng hƣớng, có nhiều vấn đề nảy sinh chỉ thấy trƣớc mắt mà không gắn đƣợc với dài hạn hoặc chỉ thấy cục bộ mà không thấy đƣợc vai trò của cục bộ trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp. Chiến lƣợc kinh doanh giúp doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có các biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ, mối đe dọa trên thƣơng trƣờng kinh doanh. Chiến lƣợc kinh doanh góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cƣờng vị thế của doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững. Chiến lƣợc kinh doanh tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp đề ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trƣờng.
Nó tạo ra cơ sở vững chắc cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tƣ phát triển, đào tạo bồi dƣỡng nhân sự, hoạt động mở rộng thị trƣờng và phát triển sản phẩm. Trong thực tế phần lớn các sai lầm trong đầu tƣ, công nghệ, thị trƣờng … đều xuất phát từ chỗ xây 8 z dựng chiến lƣợc hoặc có sự sai lệch trong xác định mục tiêu chiến lƣợc. Cội nguồn thành công hay thất bại phụ thuộc vào một trong những yếu tố quan trọng là doanh nghiệp có chiến lƣợc nhƣ thế nào. Hoạch định chiến lược kinh doanh Quá trình chiến lƣợc là một quá trình phức tạp và liên tục.
Chỉ cần một thay đổi nhỏ tại một trong những bƣớc công việc chính cũng dẫn tới sự thay đổi trong một vài hoặc tất cả các công việc khác. Do đó, quá trình quản trị chiến lƣợc dƣờng nhƣ không bao giờ có điểm dừng. Quá trình quản trị chiến lƣợc thƣờng đƣợc nghiên cứu và sử dụng thông qua các mô hình.Mô hình quản trị chiến lƣợc F.David đƣợc chấp nhận rộng rãi nhất. Mô hình này không đảm bảo sự thành công nhƣng nó cung cấp một cách rõ ràng và cơ bản phƣơng pháp tiếp cận trong việc thiệt lập, thực thi và đánh giá chiến lƣợc.
Mối quan hệ giữa các bƣớc công việc trong quản trị chiến lƣợc đƣợc biểu diễn trong mô hình sau: Hình 1.