Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh; Chương 2: Thực trạng chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH đầu tư hạ tầng khu công nghiệp Nhơn Hòa. Chương 3: Hoạch định chiến lược kinh doanh cho Công ty TNHH đầu tư hạ tầng khu công nghiệp Nhơn Hòa giai đoạn 2021-2025. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Đề tài “Hoạch định chiến lược kinh doanh cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp Nhơn Hòa giai đoạn 2021-2025”, từ trước đến nay chưa có Học viên nào nghiên cứu thực hiện. Thậm chí, do đặc thù ngành kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp còn khá mới mẻ ở địa phương nên rất ít học viên, sinh viên trong khu vực quan tâm, do vậy cũng không có các báo thực tập hay nghiên cứu về các lĩnh vực liên quan khác về Công ty này.
Mặc dù, nguồn tài liệu tham khảo rất hạn chế nhưng dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của Giáo viên hướng dẫn khoa học PGS. Nguyễn Thanh Liêm, 5 Đại học Đà Nẵng, cùng sự hỗ trợ nhiệt tình của Công ty Trách nhiệm hữu hạn đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp Nhơn Hòa, tác giả đã chọn đề tài này để thực hiện nghiên cứu cho luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Quản trị kinh doanh. Đề tài này có sử dụng thông tin về báo cáo tiến độ đầu tư kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp Nhơn Hòa, báo cáo tình hình quản lý, sử dụng đất KCN Nhơn Hòa qua các năm…; các bài viết liên quan về KCN Nhơn hòa trên Báo và Tạp chí; các đề tài nghiên cứu về hoạch định chiến lược của các năm 2013, 2016, 2017, 2019; các giáo trình chuyên ngành Quản trị chiến lược, kinh doanh, tài chính đã và đang giảng dạy tại Trường Đại học kinh tế Đà Nẵng; sách Competitive Strategy (Nhà xuất bản Trẻ năm 2009), Cạnh tranh nguồn lực: Chiến lược của thế kỷ XXI, Quản lý chiến lược của Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM và một số thông tin khác, các quy định của pháp luật liên quan, trong đó trọng tâm là quy định về hoạt động của khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế và tham khảo một số tài liệu khác trên mạng Internet. Trong tài liệu, tác giả khái quát toàn bộ chiến lược đã và đang được áp dụng phổ biến trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, với các phương pháp: hệ thống, thống kê, so sánh, tổng hợp và quy nạp, suy diễn để đối chiếu thực tế.
Trên cơ sở đó, Học viên nhận định, đánh giá các chiến lược đã và đang thực hiện tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp Nhơn Hòa, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của các chiến lược ấy, khái quát các cơ hội và thách thức mà Công ty đang và sẽ đối diện trong thời gian tới. Qua đó, xây dựng cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược một cách cơ bản nhất tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn đầu tư hạ tầng Khu công nghiệp Nhơn Hòa. Trong phần Cơ sở lý luận về hoạch định chiến lược kinh doanh Tác giả đã tham khảo và trích dẫn từ một số tài liệu, cụ thể gồm: - Từ sách giáo trình giảng dạy, chủ yếu tham khảo giáo trình từ 6 Trường Đại học kinh tế Đà Nẵng do tập thể tác giả giảng viên của trường Đại học kinh tế Đà Nẵng biên soạn dùng để giảng dạy, như Quản trị chiến lược do PGS. TS Lê Thế Giới - TS.
Nguyễn Thanh Liêm - ThS. Trần Hữu Hải, của Nhà xuất bản Thống kê năm 2009; Quản trị Tài chính do TS. Nguyên Thanh Liêm - ThS. Nguyễn Thị Mỹ Hương của Nhà xuất bản Thống kê năm 2009.
- Tham khảo từ một số tài liệu nước ngoài: Chiến lược cạnh tranh (Competitive Strategy) do Michel E. Porter, của Nhà xuất bản Trẻ, năm 2009, Người dịch: Nguyễn Ngọc Toàn; Cạnh tranh nguồn lực: Chiến lược của thế kỷ XXI của tác giả David J. Collis và Cynthia A. Montgomery đăng trên Tạp chí Harvard Business Review, bản dịch của Kiên Cường; MBA trong tầm tay- Chủ đề Quản lý chiến lược, của tác giả Liam Fehey & Robert M.Randall, Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM, người dịch: Phan Thu.
- Tham khảo một số tài liệu khác trên mạng Internet 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƢỢC KINH DOANH 1. Khái niệm, đặc trƣng, vai trò về chiến lƣợc kinh doanh 1. Khái niệm về chiến lược và chiến lược kinh doanh Khái niệm Chiến lược đã có từ thời Hy Lạp cổ đại, được biết đến như vai trò của tướng lĩnh trong quân đội. Sau đó được phát triển và hiểu như kỹ năng quản trị để khai thác các lực lượng đè bẹp đối phương và tạo dựng hệ thống thống trị toàn cục.
Luận điểm cơ bản của chiến lược là một bên đối phương có thể đè bẹp đối thủ, thậm chí là đối thủ mạnh hơn, đông hơn, nếu họ có thể dẫn dắt thế trận và đựa đối thủ vào trận địa, thuận lợi cho việc khai thác các khả năng của mình. Chiến lược cạnh tranh của một tổ chức, cũng giống như chiến lược quân sự ở chỗ nó hướng đến việc đạt được sự phù hợp giữa các năng lực tạo sự khác biệt và môi trường bên ngoài mà tổ chức tham gia cạnh tranh. Tuy nhiên, so với chiến lược quân sự, chiến luợc trong lĩnh vực kinh doanh phức tạp hơn. Không giống như các xung đột quân sự, cạnh tranh trong kinh doanh không phải lúc nào cũng gây ra kết cục có kẻ thắng người thua.
Có rất nhiều định nghĩa về chiến lược, sự khác nhau giữa các định nghĩa thường là do quan điểm của mỗi tác giả. Mỗi định nghĩa thường có nhiều ý, đa diện, nhiều khác biệt, do vậy rất khó có được một định nghĩa chính xác, đầy đủ. Năm 1962 Chandler một trong những nhà khởi xướng và phát triển lý thuyết về quản trị chiến lược định nghĩa: chiến lược là sự xác định các mục tiêu và mục đích dài hạn của doanh nghiệp và sự chấp nhận chuỗi các hành động cũng như phân bổ nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu này [14], [24]. Năm 1980, Quinn đã định nghĩa: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch thích hợp các mục tiêu cơ bản, các chính sách và chuỗi các hành động của tổ chức vào trong một tổng thể có kết cấu chặt chẽ” [14], [25].
Porterr, qua bài báo “Chiến lược là gì” năm 1996, đã phát biểu những quan niệm mới của mình về chiến lược. Ông cho rằng: “Thứ nhất, chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. Thứ hai, chiến lược là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh. Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù họp giữa tất cả các hoạt động của Công ty”.
Chúng ta thấy rằng, các định nghĩa phân chia thành nhiều ý. Điều đó, chứng tỏ rằng một định nghĩa chính xác về chiến lược sẽ rất phức tạp. Do đó, phải có các định nghĩa đa diện để giúp hiểu rõ hơn về chiến lược. Mintzberg tóm lược định nghĩa đa diện trong định nghĩa với 5 chữ “P”: - Kế hoạch (Plan): chuỗi các hành động đã dự định một cách nhất quán.
- Mô thức (Pattern): Sự kiên định về hành vi theo thời gian, có thể là dự định hay không dự định. - Vị thế (Position): Phù hợp giữa tổ chức và môi trường của nó. - Quan niệm (Perspective): Cách thức để nhận thức sâu sắc về thế giới. - Thủ thuật (Ploy): Cách thức cụ thể để đánh lừa đối thủ.
Khía cạnh khác của chiến lược là còn tùy theo cấp. Đối với doanh nghiệp, tối thiểu có ba cấp chiến lược: Chiến lược cấp công ty, chiến lược cấp đơn vị kinh doanh và chiến lược cấp chức năng. Trong đó, chiến lược cấp công ty thường hướng đến mục đích là phạm vi tổng thể của tổ chức; chiến lược cấp đơn vị kinh doanh liên quan đến cách thức cạnh tranh thành công trên thị trường cụ thể; chiến lược cấp chức năng là các chiến lược giúp cho các chiến lược cấp kinh doanh và chiến lược cấp công ty thực hiện một cách hữu hiệu nhờ các bộ phận cấu thành trên phương diện các nguồn lực, các quá trình, con người và các kỹ năng cần thiết. Từ các cơ sở nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về Chiến lược với các nội 9 dung tóm tắt như sau: “Chiến lược là tổng thể các quyết định, các hành động liên quan đến việc lựa chọn các phương tiện và phân bổ các nguồn lực nhằm đạt được một mục tiêu nhất định” 1.
Khái niệm về quản trị chiến lược Chiến lược thường được xem như là sản phẩm của một quá trình hoạch định hợp lý được dẫn dắt bởi các nhà quản trị cấp cao, song không phải là tất cả đều như vậy. Có nhiều trường hợp, các chiến lược có giá trị lại phát sinh từ bên trong tổ chức mà không có một sự hoạch định trước. Quản trị chiến lược là một bộ phận các quyết định quản trị và các hành động xác định hiệu suất dài hạn của một công ty. Quản trị chiến lược bao gồm các hành động liên tục: soát xét môi trường, xây dựng chiến lược, thực thi chiến lược và đánh giá kiểm soát chiến lược.
Quản trị chiến lược có nguồn gốc là các chính sách kinh doanh, quản trị chiến lược kết hợp các chủ đề hoạch định dài hạn với chiến lược. Tuy nhiên, trái với quản trị chiến lược chính sách kinh doanh có định hướng quản trị chung, chủ yếu hướng vào bên trong quan tâm đến sự tích hợp hoạt động giữa các chức năng của tổ chức. Trong khi đó, quản trị chiến lược không chỉ quan tâm đến sự tích hợp các chức năng bên trong giống như chính sách kinh doanh mà còn nhấn mạnh hơn vào môi trường và chiến lược. Do đó, người ta sử dụng thuật ngữ trị chiến lược thay cho chính sách kinh doanh [7], [14], [15].
Các đặc trưng cơ bản của chiến lược kinh doanh - Chiến lược kinh doanh xác định rõ những mục tiêu cơ bản phương hướng kinh doanh cần đạt được trong từng thời kỳ và được quán triệt đầy đủ trong các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. - Chiến lược kinh doanh phác thảo những phương hướng hoạt động của doanh nghiệp trong dài hạn, khung hoạt động của doanh nghiệp trong tương 10 lai. Chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ sở các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo huy động tối đa, kết hợp tốt việc khai thác và sử dụng các nguồn lực, năng lực cốt lõi nhằm giành ưu thế trong cạnh tranh. - Chiến lược kinh doanh phản ánh trong cả một quá trình liên tục từ xây dựng, đến tổ chức thực hiện, đánh giá, kiểm tra và điều chỉnh chiến lược.